1. Thông qua Luật Căn cước vào sáng ngày 24/11/2023 tại Kỳ họp thứ 6?

Dự kiến tại Kỳ họp thứ 6 của Quốc hội khóa XV, sẽ diễn ra các hoạt động sau vào sáng thứ 6, ngày 24/11/2023, và sẽ được trực tiếp trên Truyền hình Quốc hội Việt Nam:

Sáng:

- Biểu quyết thông qua Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.

- Biểu quyết thông qua Luật Căn cước công dân (sửa đổi), được đổi tên thành Luật Căn cước theo bản dự thảo mới nhất.

- Thảo luận tại hội trường về dự án Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

- Bộ trưởng Bộ Công an sẽ phát biểu giải trình và làm rõ một số vấn đề mà các đại biểu Quốc hội đưa ra.

Chiều:

- Biểu quyết thông qua Luật Viễn Thông (sửa đổi).

- Thảo luận tại hội trường về dự án Luật Đường bộ.

- Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải sẽ phát biểu giải trình và làm rõ một số vấn đề mà các đại biểu Quốc hội nêu.

 

2. Luật Căn cước công dân (sửa đổi) sẽ có ý nghĩa gì mới?

(1) Mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc

Theo Bộ Công an, việc đổi tên luật thành "Luật Căn cước" là kết quả của việc bổ sung đối tượng được cấp thẻ căn cước và đối tượng được cấp giấy chứng nhận căn cước là những người gốc Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam, nhưng chưa xác định được quốc tịch. Đây là một vấn đề lịch sử, đã tồn tại trong nước ta suốt một thời gian dài mà chưa có văn bản luật nào giải quyết một cách cơ bản và đầy đủ vấn đề này.

Theo báo cáo của Bộ Công an, hiện tại có hơn 31 nghìn người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch, trong đó có 775 trường hợp là con lai giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, và hơn 11 nghìn trường hợp không xác định được quốc tịch. Thực tế này đang gây ra nhiều khó khăn trong việc quản lý, đặc biệt là trong việc đảm bảo an ninh và trật tự.

Theo cơ quan soạn thảo, việc loại bỏ cụm từ "công dân" trong tên Luật không ảnh hưởng đến yếu tố chủ quyền quốc gia, vấn đề quốc tịch và địa vị pháp lý của công dân. Nội dung của Luật Căn cước đã quy định rõ việc cấp căn cước cho công dân Việt Nam và những người chưa có đầy đủ quyền của công dân Việt Nam.

Khi đưa ý kiến về dự thảo luật, Bộ trưởng Bộ Công an cho biết rằng Luật Căn cước sẽ giúp "không để bất kỳ ai bị bỏ lại phía sau." Ông dẫn ví dụ rằng có hàng triệu người không có bất kỳ giấy tờ tùy thân nào, đa phần là người yếu thế. Thậm chí, ở Hà Nội và TP.HCM, có hàng trăm nghìn người, đa số là người yếu thế, không có hộ khẩu, không có giấy tờ, không được đi học, không khai sinh... Nếu không cấp căn cước, không đưa họ vào xã hội để được giúp đỡ và hỗ trợ, thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Do đó, mục tiêu và ý nghĩa bảo vệ quyền của nhân dân qua việc này là rất quan trọng.

Về việc sửa tên từ "Luật Căn cước công dân (sửa đổi)" thành "Luật Căn cước," Bộ trưởng Bộ Công an cho rằng, tên mới chính xác và rộng hơn so với tên cũ. Sự thay đổi tên giúp mở rộng phạm vi đối tượng và hỗ trợ quản lý xã hội một cách hiệu quả. Điều quan trọng là cấp giấy chứng nhận căn cước cho những người gốc Việt đang cư trú tại Việt Nam nhưng không có quốc tịch, để họ được thừa nhận và có quyền tham gia vào xã hội.

(2) Tạo tiền đề cho hội nhập quốc tế

Việc đổi tên thẻ bảo đảm tính tương đồng với tiêu chuẩn quốc tế, thể hiện sự thích ứng với xu hướng sử dụng "thẻ căn cước" (Identity Card) trong nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là một sự điều chỉnh phù hợp với quốc tế và cũng đã được sử dụng trong quá khứ tại Việt Nam.

Trong giai đoạn thuộc địa Pháp, tài liệu này được gọi là "thẻ căn cước," "giấy thông hành," hoặc "giấy chứng minh" và có giá trị trên toàn Đông Dương. Tuy nhiên, vào năm 1946, theo Sắc lệnh số 175-b ngày 6-9-1946 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thẻ công dân đã thay thế thẻ căn cước. Thẻ công dân là một văn bằng chứng nhận về danh tính và các đặc điểm riêng của mỗi công dân, được cấp bởi các cơ quan hành chính cấp xã, thị xã hoặc thành phố, tại nơi công dân có nguyên quán hoặc trú quán, dành cho người Việt Nam từ 18 tuổi trở lên. Sau đó, vào năm 1957, thẻ công dân đã được thay thế bằng giấy chứng minh với tên gọi "chứng minh nhân dân."

Sự thay đổi tên thành "thẻ căn cước" nhằm đảm bảo tính phổ quát và chuẩn hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập quốc tế. Điều này cũng giúp cho việc thừa nhận và công nhận tài liệu về căn cước giữa các quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới trở nên dễ dàng hơn. Điều quan trọng, việc này giúp hạn chế sự cần phải thay đổi và bổ sung Luật khi Việt Nam ký kết thỏa thuận với các quốc gia khác để sử dụng thẻ căn cước thay cho hộ chiếu trong việc đi lại giữa các quốc gia, chẳng hạn như việc di chuyển trong khối ASEAN.

 

3. Quy định về biểu quyết tại phiên họp toàn thể của Quốc hội

Quy định về biểu quyết tại phiên họp toàn thể của Quốc hội theo Điều 20 Nội quy Kỳ họp Quốc hội ban hành kèm theo Nghị quyết 71/2022/QH15 như sau:

- Dự thảo luật, dự thảo nghị quyết, báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, dự thảo nghị quyết trình Quốc hội thông qua và đề xuất một số vấn đề còn ý kiến khác nhau cần biểu quyết trước khi biểu quyết thông qua toàn văn dự thảo luật, dự thảo nghị quyết phải được gửi đến đại biểu Quốc hội nghiên cứu chậm nhất là 24 giờ trước phiên biểu quyết thông qua.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định các vấn đề còn ý kiến khác nhau cần trình Quốc hội biểu quyết trước khi biểu quyết thông qua toàn văn dự thảo luật, dự thảo nghị quyết theo đề nghị của cơ quan chủ trì thẩm tra.

- Quốc hội quyết định áp dụng một trong các hình thức biểu quyết sau đây:

  • Biểu quyết bằng hệ thống biểu quyết điện tử;
  • Biểu quyết bằng bỏ phiếu kín;
  • Biểu quyết bằng giơ tay.

Hình thức biểu quyết do Quốc hội quyết định được ghi trong chương trình kỳ họp Quốc hội.

- Trình tự biểu quyết tại phiên họp toàn thể được tiến hành như sau:

  • Chủ tịch Quốc hội hoặc Phó Chủ tịch Quốc hội được phân công điều hành phiên họp nêu rõ vấn đề Quốc hội cần biểu quyết;
  • Quốc hội biểu quyết;
  • Chủ tịch Quốc hội hoặc Phó Chủ tịch Quốc hội được phân công điều hành phiên họp báo cáo kết quả biểu quyết trong trường hợp biểu quyết bằng hệ thống biểu quyết điện tử và biểu quyết bằng giơ tay. Trưởng Ban kiểm phiếu báo cáo kết quả biểu quyết trong trường hợp biểu quyết bằng bỏ phiếu kín.

- Việc tiến hành biểu quyết được thực hiện theo nguyên tắc trực tiếp, đại biểu Quốc hội không biểu quyết thay đại biểu Quốc hội khác. Đại biểu Quốc hội có quyền biểu quyết tán thành, không tán thành hoặc không biểu quyết.

- Luật, nghị quyết và các quyết định khác của Quốc hội được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành; trong trường hợp làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, thông qua Hiến pháp, quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội, bãi nhiệm đại biểu Quốc hội phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Trường hợp Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội có quy định khác về tỷ lệ đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thì áp dụng quy định của văn bản đó.

- Trường hợp cần biểu quyết lại một vấn đề đã được Quốc hội biểu quyết thông qua nhưng chưa có hiệu lực thi hành thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của ít nhất hai mươi phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội hoặc đề nghị của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình dự án, dự thảo, báo cáo, cơ quan chủ trì thẩm tra trình Quốc hội xem xét, quyết định việc biểu quyết lại theo trình tự như sau:

  • Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội việc biểu quyết lại;
  • Quốc hội xem xét, thông qua việc biểu quyết lại.

- Trình tự Quốc hội xem xét, quyết định vấn đề đã được Quốc hội quyết định biểu quyết lại như sau:

  • Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội vấn đề cần biểu quyết lại;
  • Quốc hội thảo luận, biểu quyết thông qua vấn đề cần biểu quyết lại.

Bài viết liên quan:  Đi làm căn cước công dân cần mang những gì?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!