1. Thu hồi đất là gì
Theo quy đinh tại khoản 11 điều 3 Luật đất đai năm 2013 định nghĩa về thu hồi đất như sau: "Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai"
2. Các trường hợp thu hồi đất theo quy định của pháp luật
Các trường hợp thu hồi đất theo quy định của pháp luật hiện hành tại Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 quy định các trường hợp người sử dụng đất có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:
1. Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm
2. Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất Làm biến dạng địa hình, làm suy giảm chất lượng đất, gây ô nhiễm đất, làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định.
3. Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;
Các trường hợp được coi là giao đất không đúng thẩm quyền gồm:
+ Người đứng đầu điểm dân cư giao đất hoặc UBND cấp xã giao đất không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai qua các thời kỳ;
+ Tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng nhưng đã tự phân phối, bố trí cho cán bộ, công nhân viên, xã viên để sử dụng làm nhà ở và các mục đích khác.
4. Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật Đất đai 2013 mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho. Theo Điều 191 Luật Đất đai năm 2013, các trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất gồm:
+ Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất.
+ Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
+ Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa.
+ Hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, nếu không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đó.
5. Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;
6. Đất không được chuyển quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;
7. Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;
Tại khoản 13 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP quy định: Người sử dụng đất không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật mà đã bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ tài chính nhưng không chấp hành thì sẽ bị thu hồi đất.
8. Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục
9. Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư:
- Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng:
- Trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này;
- Hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.
+ Trường hợp bất khả kháng: Theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 43/2014/NĐ-CP trường hợp bất khả kháng ảnh hưởng đến tiến độ sử dụng đất của dự án đầu tư đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất gồm:
- Do ảnh hưởng trực tiếp của thiên tai, thảm họa môi trường;
- Do ảnh hưởng trực tiếp của hỏa hoạn, dịch bệnh;
- Do ảnh hưởng trực tiếp của chiến tranh;
- Các trường hợp bất khả kháng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Trên đây là những trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai. Qua đó cho thấy, để không bị thu hồi thì người sử dụng đất cần tránh những điều cấm như sử dụng đất không đúng mục đích, không sử dụng đất dẫn tới bỏ hoang... Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm. Hay nói cách khác, người sử dụng đất dù có vi phạm pháp luật đất đai thuộc 01 trong 09 trường hợp trên thì chỉ bị thu hồi khi có quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
3. Các khoản hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 quy định về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:
a) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;
b) Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển;
c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;
d) Hỗ trợ khác.
Điều 6 nghị định 43 năm 2014 quy định về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:
1, Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:
a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư
b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất.
4. Nguyên tắc bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất?
Trước đây, trong Luật đất đai 20.03, các chế định bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được quy định trong 03 điều (Điều 41, 42 và 43) và trên thực tế đã không thể thể chế, chuyển tải hết các quy định mang tính nguyên tắc để thực hiện thống nhất khi xử lý những vấn đề phức tạp phát sinh trong thực tiễn thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại các địa phương, các bộ, ngành. Khắc phục hạn chế này, Luật đất đai 2013 đã tách nguyên tắc bồi thường về đất thành một điều luật riêng biệt (Điều 74 Luật đất đai 2013). Trong đó, quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, ngành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực hiện. Cụ thể, các nguyên tắc bồi thường về đất trong Luật đất đai 2013 bao gồm:
Thứ nhất, người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 Luật đất đai 2013 thì được bồi thường (khoản 1 Điều 74 Luật đất đai 2013). Như vậy, người sử dụng đất sẽ được bồi thường nhưng không phải tất cả các chủ thể sử dụng đất bị thu hồi vì mục đích này đều được bồi thường. Để được bồi thường họ cần phải đáp ứng một số điều kiện nhất định do pháp luật quy định. Chẳng hạn, họ phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận.
Thứ hai, việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không tính quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất (khoản 1 Điều 74 Luật đất đai 2013). Đây là nội dung được kế thừa trong Luật đất đai năm 20.03, Tuy nhiên, thực tiễn triển khai việc thực thi nguyên tắc này gặp nhiều khó khăn, vướng mắc như: tình trạng quỹ đất nông nghiệp đã giao hết cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài không còn đất nông nghiệp để bồi thường cho người trực tiếp sản xuất bị thu hồi đất nông nghiệp, giá đất tại thời điểm thu hồi nhưng người bị thu hồi đất không nhận được tiền bồi thường ngày ở thời điểm đó mà phải sau một thời gian nhất định, có khi từ 2 đến 3 năm kể từ ngày có quyết định thu hồi đất,... Như vậy, đây là vấn đề cần được quy định cụ thể hướng dẫn thi hành để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả khi thực thi pháp luật.
Thứ ba: Quy định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật (khoản 3 Điều 74 Luật đất đai 2013). Đây là quy định mà Luật đất đai 20.03 chưa được làm rõ thì hiện nay đã được ghi nhận thành nguyên tắc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trong Luật đất đai 2013. Trên thực tế, dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật là những yếu tố hết sức cần thiết giúp cho việc thực hiện công tác bồi khi Nhà nước thu hồi đất đạt hiệu quả cao, đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người bị thu hồi đất và chủ đầu tư. Vì vậy, việc chỉ nhận nguyên tắc này trang Luật đất đai 2013 thể hiện bước tiến mới trong những quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, thể hiện sự tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất.
5. Những trường hợp được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà Nước thu hồi đất.
1. Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, anh ninh; phát triển kinh tế hội vì lợi ích quốc gia công cộng (Điều 76).Đất được Nhà Nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 54. Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm, đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ gia đình, người có công với cách mạng. Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất của xã, phường, thị trấn. Đất nhận khoán để sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.
2. Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân,
3. Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo.
4. Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của hộ gia đình, cá nhân Điều 40).
5. Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà Nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Điều 81).