1.Thư tín dụng trả thẳng (hoặc đặc biệt khuyến cáo) và thư tín dụng có giá trị chiết khấu 

Trong một số thư tín dụng, được gọi là ‘thư tín dụng trả thẳng’ (straight credit), cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành chỉ được gửi tới bên bán. Trong một số thư tín dụng khác, được gọi là ‘thư tín dụng chiết khấu’ (negotiation credit) (hoặc thư tín dụng thương lượng thanh toán - ND), cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành không chỉ dành cho bên bán mà còn mở rộng tới một ‘ngân hàng được chỉ định’ được ủy quyền thương lượng thanh toán mua hối phiếu kí phát bởi bên bán. Điều 2 UCP quy định: ‘Thương lượng thanh toán là việc mua lại hối phiếu và/hoặc chứng từ khi xuất trình hợp lệ của một ngân hàng được chỉ định (được kí phát bởi một ngân hàng khác ngoài ngân hàng được chỉ định), bằng cách tạm ứng hoặc đồng ý tạm ứng cho người thụ hưởng trong hoặc trước ngày làm việc của ngân hàng mà vào ngày đó, số tiền hoàn trả đến hạn phải trả cho ngân hàng được chỉ định.’ Đối với thư tín dụng mở có giá trị chiết khấu, cam kết thanh toán được mở rộng tới tất cả các ngân hàng. Ngân hàng, sau khi đã thương lượng thanh toán với người thụ hưởng về hối phiếu hoặc chứng từ, có thể xuất trình các giấy tờ này theo thư tín dụng và nhận thanh toán khi đến hạn (Điều 7(c) và Điều 8(c) UCP 600).

2. Thư tín dụng ‘điều khoản đỏ’ và thư tín dụng ‘điều khoản xanh’

Thư tín dụng ‘điều khoản đỏ’ (‘Red clause’ credit) là thư tín dụng cho phép bên bán kí phát thư tín dụng trước khi chuyển hàng. Việc tạm ứng được thực hiện trên cơ sở biên lai kho hàng (để chứng minh là có đủ hàng để giao theo thoả thuận - ND), mặc dù người thụ hưởng có khả năng xử lí lô hàng (chuyển hàng đi - ND). Loại thư tín dụng này dần dần được gọi là thư tín dụng ‘điều khoản đỏ’, do các điều khoản được in bằng mực đỏ. Mặc dù nguồn gốc của loại thư tín dụng này là từ lĩnh vực kinh doanh len sợi, nhưng việc sử dụng nó ngày nay không chỉ giới hạn trong ngành này. Do bên bán có khả năng xử lí lô hàng, loại thư tín dụng này được sử dụng khi các bên trong hợp đồng tin tưởng nhau ở mức độ cao. Thư tín dụng ‘điều khoản xanh’ (‘Green clause’ credit) được đưa vào sử dụng trong kinh doanh cà phê ở Dai-a và có tác dụng tương tự như thư tín dụng ‘điều khoản đỏ’. Khác biệt duy nhất ở loại thư tín dụng này là hàng hoá được lưu kho dưới tên của ngân hàng.

3.Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving Credit)

Thư tín dụng, thay vì chỉ được sử dụng để thanh toán một khoản tiền xác định hoặc chỉ có giá trị trong một thời điểm cố định, có thể được phục hồi lại về giá trị hoặc thời gian. Thư tín dụng tuần hoàn về giá trị cho phép người thụ hưởng xuất trình chứng từ một cách thường xuyên theo mong muốn trong khoảng thời gian còn hiệu lực của thư tín dụng, miễn là không vượt quá tổng giới hạn được quy định trong thư tín dụng. Còn thư tín dụng tuần hoàn về thời gian cho phép người thụ hưởng rút khoản tiền nhất định trong một tháng theo giai đoạn được ghi trong thư tín dụng, cho phép hoặc không cho phép người thụ hưởng chuyển số tiền chưa rút từ tháng này sang tháng sau.

Thư tín dụng chuyển nhượng (transferable credit) và thư tín dụng không được chuyển nhượng (non-transferable credit)

Thư tín dụng có thể chuyển nhượng hoặc không được chuyển nhượng. Thư tín dụng chuyển nhượng cho phép bên bán (người thụ hưởng ban đầu của thư tín dụng) chuyển giao quyền lợi trong thư tín dụng cho bên thứ ba, ví dụ, như các nhà cung ứng của bên bán. Điều 38 UCP quy định việc chuyển nhượng thư tín dụng được tiến hành khi đáp ứng đầy đủ một số điều kiện. Nổi bật trong số này là các yêu cầu mà ngân hàng chuyển nhượng phải tuyệt đối tuân thủ về mức độ và cách thức chuyển giao (Điều 38(a)), và thư tín dụng phải được ghi rõ là ‘có thể được chuyển nhượng’ bởi ngân hàng phát hành (Điều 38(b)). Tuy nhiên, thuật ngữ ‘chuyển nhượng’ phần nào gây hiểu lầm. ‘Có thể chuyển nhượng’ không có nghĩa là ‘có thể thương lượng thanh toán’. Thư tín dụng là văn bản không thể thương lượng thanh toán, nhưng lại có thể chuyển nhượng từ người này sang người khác, thông qua việc kí hậu (ghi rõ ra mặt sau - ND) (endorsement) và chuyển giao. Trên thực tế, khi người thụ hưởng thứ nhất (bên bán) muốn chuyển nhượng thư tín dụng cho người thụ hưởng thứ hai (thường là nhà cung ứng của bên bán), anh ta sẽ trả lại thư tín dụng cho ngân hàng chuyển nhượng; ngân hàng này, theo yêu cầu của người thụ hưởng thứ nhất, sẽ phát hành một thư tín dụng mới tới người thụ hưởng thứ hai về toàn bộ hoặc một phần tiền ghi trong thư tín dụng gốc. Nếu người thụ hưởng thứ nhất chỉ chuyển nhượng một phần giá trị ghi trong thư tín dụng, anh ta vẫn có thể nhận tiền từ số dư. Trừ trường hợp khác được ghi rõ trong thư tín dụng, thư tín dụng chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần duy nhất (Điều 38(d) UCP 600). Điều này nghĩa là người thụ hưởng thứ hai không thể tiếp tục chuyển nhượng một phần (giá trị của) thư tín dụng nhằm phục vụ lợi ích cho nhà cung ứng của anh ta, nhưng người thụ hưởng thứ nhất lại không bị ngăn cản trong việc chuyển nhượng một phần (giá trị của) thư tín dụng cho nhiều người khác nhau, miễn là tổng số chuyển nhượng không vượt quá giá trị của thư tín dụng, đồng thời việc chuyển một phần hàng và rút một phần tiền không bị cấm theo các điều khoản ghi trong thư tín dụng (Điều 38(d) và (g) UCP 600).

Thư tín dụng bảo lãnh theo yêu cầu (Demand Guarantees Credit) và thư tín dụng dự phòng (Standby Credit)

Các loại thư tín dụng này thuộc phạm vi điều chỉnh của UCP nhưng có tính chất khác với các loại hình thư tín dụng thông thường và sẽ được đề cập ở tiểu mục sau

4.Sự vận hành của thư tín dụng

Giả sử rằng giao dịch dưới đây là một hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, thì giao dịch thư tín dụng thông thường sẽ được vận hành như sau: - Bên bán và bên mua thoả thuận trong hợp đồng mua bán là việc trả tiền sẽ được thực hiện thông qua thư tín dụng; - Bên mua (với tư cách ‘người yêu cầu’ trong thư tín dụng) yêu cầu một ngân hàng tại nước mình (‘ngân hàng phát hành’) mở thư tín dụng phục vụ lợi ích của bên bán (‘người thụ hưởng’) dựa trên các điều khoản xác định bởi bên mua theo mệnh lệnh của anh ta (thường được nêu tại yêu cầu mở thư tín dụng); - Ngân hàng phát hành mở một thư tín dụng không huỷ ngang , bằng các điều khoản trong thư tín dụng, cam kết (i) Trả số tiền nêu trong hợp đồng; hoặc (ii) Cam kết trả chậm và trả khi đến hạn; hoặc (iii) Chấp nhận hối phiếu kí phát bởi người thụ hưởng và trả khi đến hạnbvới điều kiện các chứng từ được xuất trình đúng hạn  và phù hợp với các điều khoản và điều kiện nêu tại thư tín dụng; - Ngân hàng phát hành mở thư tín dụng bằng cách gửi thông báo trực tiếp cho bên bán; ngoài ra, trong nhiều trường hợp, ngân hàng phát hành còn có thể sắp xếp cho một ngân hàng trong nước của bên bán (ngân hàng ‘thông báo’ hoặc ‘chuyển phát’) để thông báo tới bên bán là thư tín dụng đã được mở; - Ngân hàng phát hành cũng có thể yêu cầu ngân hàng thông báo bổ sung sự ‘xác nhận’ của mình vào thư tín dụng. Nếu ngân hàng đồng ý làm như vậy, ngân hàng thông báo (bây giờ được gọi là ngân hàng ‘xác nhận’) cam kết thanh toán riêng cho bên bán, căn cứ vào các điều khoản tương tự được đặt ra bởi ngân hàng phát hành, người bán sẽ được hưởng lợi từ nghĩa vụ thanh toán ngay tại nước mình; - Bên bán chuyển hàng và đệ trình các chứng từ bắt buộc (thường thông qua ngân hàng của bên bán, với tư cách đại diện) tới ngân hàng thông báo (với tư cách ngân hàng được chỉ định) hoặc ngân hàng xác nhận. Nếu bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản của thư tín dụng, ngân hàng thông báo (với tư cách ngân hàng được chỉ định ) hoặc ngân hàng xác nhận sẽ (i) trả số tiền nêu trong hợp đồng; hoặc (ii) cam kết trả chậm và trả khi đến hạn; hoặc (iii) chấp nhận hối phiếu và trả khi đến hạn; hoặc (iv) thương lượng thanh toán mua lại hối phiếu và nhận số tiền hoàn lại từ ngân hàng phát hành; - Trước khi hoàn lại chứng từ cho bên mua, đến lượt mình, ngân hàng phát hành sẽ yêu cầu được thanh toán. Nếu bên mua không thể thanh toán vì chưa bán lại được hàng hoá, thì ngân hàng phát hành có thể hoàn lại chứng từ cho bên mua theo một ‘biên lai ủy thác’ (‘trust-receipt’), theo đó bên mua có quyền tiếp cận hàng khi hàng được vận tải tới nơi mà không làm thiệt hại đến lợi ích bảo đảm của ngân hàng đối với hàng hoá và trong quá trình mua bán. E. Các hợp đồng phát sinh từ giao dịch thư tín dụng Giao dịch thư tín dụng được triển khai đồng thời với chuỗi các quan hệ hợp đồng có liên quan đến nhau. Thứ nhất, đó là hợp đồng mua bán giữa bên bán và bên mua. Thứ hai, khi ngân hàng phát hành đồng ý thực hiện theo mệnh lệnh của bên mua, giữa họ đã tồn tại một hợp đồng. Thứ ba, khi ngân hàng chuyển phát đồng ý thực hiện theo mệnh lệnh của ngân hàng phát hành  và thông báo hoặc xác nhận thư tín dụng, giữa hai ngân hàng này cũng có quan hệ hợp đồng. Cuối cùng, chính cam kết trả tiền cho bên bán của ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận trong giao dịch thư tín dụng cũng là quan hệ mang bản chất hợp đồng.

5. Cam kết của ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận

Thông thường, nếu thư tín dụng là thư tín dụng xác nhận, thì người thụ hưởng sẽ được nhận thanh toán từ ngân hàng xác nhận. Nếu thư tín dụng là không xác nhận, thì người thụ hưởng sẽ được nhận thanh toán từ ngân hàng phát hành. Nếu có sự tham gia của ngân hàng được chỉ định, thì người thụ hưởng sẽ được nhận thanh toán từ ngân hàng này. Nếu ngân hàng được chỉ định không thực hiện thanh toán, thì người thụ hưởng sẽ quay lại ngân hàng xác nhận hoặc ngân hàng phát hành. Do vậy, về mặt pháp lí, cam kết của ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận đối với các bên liên quan, chẳng hạn cam kết trả tiền, là rất quan trọng đối với người thụ hưởng theo thư tín dụng (tức là bên mua). Đối với cam kết của ngân hàng phát hành, Điều 7 UCP quy định như sau: a. Với điều kiện các chứng từ theo quy định được nộp cho ngân hàng được chỉ định hoặc ngân hàng phát hành, và với điều kiện chứng từ được xuất trình hợp lệ, ngân hàng phát hành phải thanh toán, nếu thư tín dụng ghi rõ: i. Thư tín dụng có giá trị trả ngay, trả chậm hoặc chấp nhận tại ngân hàng phát hành; ii. Trả ngay tại một ngân hàng được chỉ định mà ngân hàng được chỉ định đó không thanh toán; iii. Trả chậm tại một ngân hàng được chỉ định mà ngân hàng được chỉ định đó không cam kết về nghĩa vụ trả chậm, hoặc có cam kết về nghĩa vụ trả chậm nhưng không thanh toán khi đến hạn; iv. Chấp nhận [hối phiếu] tại một ngân hàng được chỉ định mà ngân hàng được chỉ định đó không chấp nhận hối phiếu đã kí phát, hoặc đã chấp nhận hối phiếu đã kí phát mà không thanh toán khi đến hạn; v. Thương lượng thanh toán với một ngân hàng được chỉ định mà ngân hàng được chỉ định đó không thương lượng thanh toán. b. Ngân hàng phát hành bị ràng buộc bởi nghĩa vụ thanh toán không thể huỷ bỏ ngay khi phát hành thư tín dụng. c. Ngân hàng phát hành cam kết hoàn trả cho ngân hàng được chỉ định, mà ngân hàng này đã thanh toán hoặc thương lượng thanh toán trên cơ sở sự xuất trình chứng từ hợp lệ và chuyển các chứng từ này tới ngân hàng phát hành. Việc hoàn trả trên cơ sở xuất trình hợp lệ theo thư tín dụng có giá trị thanh toán bằng cách chấp nhận hoặc trả chậm là vào lúc đáo hạn, không phụ thuộc vào việc ngân hàng được xác định đã trả trước hoặc mua trước khi đến hạn. Cam kết hoàn trả của ngân hàng phát hành đối với ngân hàng được chỉ định là độc lập với cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành với người thụ hưởng. Đối với cam kết của ngân hàng xác nhận

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)