1. Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ?

Thưa luật sư, anh trai tôi có một mảnh đất bao gồm nhà ở. Đây là căn nhà do bố mẹ tôi để lại cho anh. căn nhà này anh được thừa kế khi đã lập gia đình. Hiện căn nhà vẫn chưa được sang tên cho anh trai tôi (vẫn đứng tên mẹ tôi) và bố mẹ tôi đã mất. Giờ anh muốn tặng lại mảnh đất này cho tôi.
Vậy xin hỏi luật sư chúng tôi phải làm nhũng thủ tục gì và có phải nộp những khoản thuế không? Nếu phải nộp thì là những khoản nào ?
Rất mong được luật sư giải đáp. Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, quyền sử dụng căn nhà vẫn chưa được sang tên cho anh trai bạn, vì vậy quyền sử dụng này vẫn thuộc về mẹ bạn. Anh em bạn cần làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế.

Về căn nhà, nếu mẹ bạn có để lại di chúc về việc để thừa kế căn nhà lại cho anh bạn thì anh bạn cần làm thủ tục tặng cho căn nhà cho bạn thông qua hợp đồng tặng cho đã được công chứng. Tiếp đến bạn cần làm thủ tục sang tên quyền sử dụng căn nhà. Hồ sơ sang tên bao gồm:

+ Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có công chứng (trường hợp mẹ bạn không để lại di chúc).

+ Văn bản khai nhận di sản có công chứng

+Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

+ Giấy tờ khác: CMT, sổ hộ khẩu của bố mẹ bạn

Về các khoản thuế phải nộp, do việc sang tên được thực hiện giữa mẹ và con nên theo quy định tại Điều 1 Thông tư 34/2013/TT-BTC về sửa đổi bổ sungmột số điều của Thông tư 124/2011/TT-BTC thì bạn sẽ được miễn các loại thuế.

kính gửi a/c, trường hợp của tôi như sau: bố mẹ tôi chỉ có mình tôi, bố mẹ tôi đều đã mất, tôi đã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế cho tôi (tôi là người duy nhất được hưởng tài sản). bây giờ tối muốn làm thủ tục sang tên sổ đỏ, vậy trên sổ đỏ chỉ ghi tên tôi, hay bắt buộc ghi tên cả 2 vợ chồng tôi ? nếu chỉ ghi tên tôi thì sau này có gì làm bằng chứng nhà đất này là tài sản riêng của tôi (bằng chứng là bố mẹ tôi chỉ cho riêng mình tôi)? vì tôi tìm hiểu thì thấy việc phân biệt tài sản chung hay riêng (khi sổ đỏ chỉ đứng tên 1 người) là khó xác định. mong nhận được trả lời của a/c. xin cảm ơn.

=> Do bạn không đề cập đến việc bố mẹ bạn có để lại di chúc hay không nên chúng tôi chia thành 2 trường hợp sau:

- Bố mẹ bạn để lại di chúc hợp pháp: nếu trong di chúc bố mẹ bạn nói rõ để lại di sản thừa kế, cụ thể là quyền sử dụng nhà đất thì nó sẽ là tài sản riêng của mình bạn. Khi sang tên thì bạn có quyền đứng tên một mình trên sổ đỏ.

- Bố mẹ bạn không để lại di chúc: tài sản này sẽ là tài sản chung của hai vợ chồng bạn và theo quy định của pháp luật hiện hành khi sang tên bắt buộc phải đứng tên cả hai vợ chồng theo quy định tại Khoản 4 Điều 98 Luật Đất đai 2013 như sau:

"4. Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người."

Thưa luật sư, Tôi đã lập gia đình, có 2 con. Trong thời gian kết hôn tôi có mua một thửa đất đứng tên một mình tôi vì lúc đó chồng tôi ở nước ngoài. Bây giờ vợ chồng tôi không có nhu cầu sử dụng thửa đất ở đó mà muốn cho em trai ruột của tôi sử dụng để làm nhà ở. Luật sư cho tôi hỏi thủ tục cho, biếu , tặng thửa đất đó của tôi cho em trai ruột tôi thủ tục sẽ như thế nào. Các thủ tục đó làm trong bao lâu thì xong? Cảm ơn luật sư.

=> Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân được coi là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp 2 vợ chồng bạn thỏa thuận đó là tài sản riêng của vợ hoặc chồng hoặc bạn chứng minh được tài sản đó được mua từ tiền của riêng bạn.

Về thủ tục tặng cho thì trước tiên bạn cần lập hợp đồng tặng cho có công chứng. Tiếp đó, bạn cần chuẩn bị một bộ hồ sơ tặng cho bao gồm:

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (1 bản gốc + 3 bản sao công chứng)

+ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa các bên.

+ Sơ đồ kỹ thuật thửa đất (nếu có)

+ Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của bên tặng cho và bên nhận tặng cho (bản sao, công chứng)

+ Các giấy tờ khác như giấy đăng ký hết hôn nếu tặng cho cả vợ và chồng, biên bản thỏa thuận về tài sản có liên quan đến phần đất này

Cuối cùng bạn cần làm thủ tục sang tên thửa đất đó cho em trai bạn.

Về thời gian thực hiện, Luật Đất đai 2013 quy định như sau:

Trong thời hạn không quá mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thẩm tra hồ sơ, gửi hồ sơ cho cơ quan quản lý đất đai thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trường hợp các bên chuyển nhượng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính mà nghĩa vụ tài chính đó được xác định theo số liệu địa chính thì văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thông báo cho các bên chuyển nhượng thực hiện nghĩa vụ tài chính. Trong thời hạn không quá năm ngày làm việc kể từ ngày thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, các bạn nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi đã sang tên tại nơi đã nộp hồ sơ là văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng tài nguyên môi trường nơi có đất.

Thưa luật sư, Chồng tôi mất năm 2011 hiện nay để lại 01 bìa đỏ mang tên 2 vợ chồng. Tôi và mẹ chồng đã làm thủ tục thừa kế toàn bộ phần thừa kế của mẹ chồng sang cho tôi và con tôi (nhưng chưa sang tên). Nay gia đình chồng Tôi muốn sang tên bìa đỏ đó cho mẹ chồng tôi và con tôi. Mà mẹ chồng tôi còn 3 con trai nữa. Tôi rất tha thiết đoàn Luật sư tư vấn cho tôi

=> Bộ luật dân sự 2005 (văn bản mới: bộ luật dân sự năm 2015) quy định về hàng thừa kế như sau:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Theo đó, phần đất do chồng bạn để lại sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, bao gồm bạn, con bạn và mẹ chồng bạn. Ba anh trai của chồng bạn không phải người được thừa kế, do đó họ không có quyền đối với phần đất này. Nếu như mẹ chồng bạn đồng ý tặng cho phần thừa kế của mình thì miếng đất sẽ thuộc quyền sử dụng của bạn và con bạn sau khi đã hoàn tất các thủ tục tặng cho và sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Xin chào Luật sư (LS), xin LS tư vấn cho em 1 số vấn đề như sau:Bà nội em có 5 người con 2 trai 3 gái, các cô bác đều cắt hộ khẩu đi nới khác lập nghiệp trước năm 2000. Năm 2002 bà nội em mất không để lại Di chúc. Cha em mới thừa kế đất đai nhà cửa, giấy tờ đất đai nhà cửa chuyển qua tên cha em đứng đến năm 2014 thì cha em mất. Mẹ em mới làm hồ sơ xin chia phần đất ra làm 2, 1 phần đứng tên mẹ em, 1 phần đứng tên em. Cả 2 đều có sổ hồng.Nếu bây giờ em bán phần đất mà em đứng tên thì các cô bác có quyền đòi chia tài sản với em hay của mẹ em hay không? Xin cảm ơn. Rất mong nhận được câu trả lời từ phía Luật sư

=> Theo quy định của pháp luật về thừa kế, sau khi bà nội bạn mất thì quyền sử dụng miếng đất, quyền sở hữu nhà ở sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, bao gồm 5 người con. Thời hạn khởi kiện chia di sản từa kế là 10 năm, sau thời hạn này thì di sản sẽ thành tài sản chung của những người thừa kế theo quy định tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán như sau:

"2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Như vậy, cô bác của bạn có thể kiện đòi quyền sử dụng tài sản chung của mình.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Từ chối thừa kế và trách nhiệm trả nợ cho người đã mất ?

Xin chào Công ty Luật Minh Khuê! Tôi có câu hỏi sau xin được tư vấn: Bố tôi làm chủ một công ty về bất động sản. Khi bố tôi vừa mất được mấy tháng thì có người đến nói trước khi mất bố tôi có nhận bán đất cho họ và ký giấy nhận tiền của họ rồi nhưng chưa giao đất.

Tuy nhiên chúng tôi không thể chứng thực được điều này vì giờ người đã mất rồi. Xin luật sư cho chúng tôi hỏi trong trường hợp các con đã ký giấy từ chối quyền thừa kế, sau đó toàn bộ tài sản được chuyển sang tên mẹ, giờ mẹ tôi muốn ký giấy tặng, cho toàn bộ tài sản đó lại cho chúng tôi thì chúng tôi có phải chịu trách nhiệm trước số nợ đó nữa không, vì tôi có đọc được là những người đã từ chối quyền thừa kế thì không có trách nhiệm phải trả nợ cho người đã mất nữa có đúng không ạ? Và trong trường hợp toàn bộ tài sản mẹ tôi là người thừa kế duy nhất đã đem đi cho, tặng và không còn trả năng trả nợ thì mẹ tôi có bị truy tội hình sự không hay công ty sẽ tự giải quyết?

Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Hoàng

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

3. Tư vấn pháp luật hôn nhân về tài sản, thừa kế ?

Kính gửi luật sư, Tôi có câu hỏi về vấn đề Pháp luật cần tư vấn. Rất mong các bạn giúp đỡ. Anh trai tôi kết hôn và có một bé trai 3 tuổi. Tuy nhiên đời sống vợ chồng không hạnh phúc nên anh chị tôi đã sống li thân từ khi bé được 1 tuổi. Bé trai về ở với mẹ.

Không may giữa năm nay anh tôi qua đời vì bệnh nặng, trước khi anh trai và chị dâu tôi kịp làm thủ tục li hôn. Nay chị dâu tôi đang tính chuyện kết hôn với 1 người Việt mang quốc tịch Mỹ và định đưa cháu trai tôi cùng sang Mỹ sau khi kết hôn. Tuy nhiên gia đình tôi không mong muốn điều đó vì kế hoạch của chị tôi là định sang Mỹ theo một người đã có vợ con mà vì người đó chưa hoàn tất thủ tục li hôn nên chị tôi sẽ kết hôn giả với một người khác để sang Mỹ trước, sau khi người kia li hôn thì sẽ kết hôn với anh ta. Như vậy tương lai của cháu tôi nếu sang Mỹ sẽ hoàn toàn không được đảm bảo nên tôi và ba mẹ tôi muốn dành quyền nuôi cháu bé. Thực tế hiện nay gia đình tôi có điều kiện hơn và vẫn chu cấp hoàn toàn tiền học phí và sinh hoạt của cháu bé, mẹ cháu cũng đã không làm tốt trách nhiệm của người mẹ, không quan tâm đến con mà giao hết cho bà giúp việc lo cho cháu. Cháu trai tôi cũng chỉ muốn ở với ông bà nội và vợ chồng tôi mà không muốn ở với mẹ. Tuy nhiên theo tôi tìm hiểu thì cháu mới 3 tuổi nên ý kiến của cháu chưa được xem xét nếu xảy ra tranh chấp. Ngoài ra, họ hàng bên nhà chị dâu tôi cũng rất bức xúc về việc chị dâu tôi không quan tâm đến con và mong muốn cháu tôi được về ở với ông bà nội. Giờ mong muốn của gia đình tôi là cháu bé sẽ được giao cho bên nội chăm sóc, cụ thể là vợ chồng tôi sẽ nhận trách nhiệm nuôi dạy cháu cùng ông bà nội của cháu. Tuy nhiên chúng tôi chưa nắm rõ các quy định luật pháp về việc ông bà/cô chú giành quyền nuôi cháu từ mẹ cháu khi bố cháu đã mất. Rất mong sẽ sớm nhận được câu trả lời từ các luật sư của Công ty

Trân trọng cảm ơn.

Thông tin liên hệ của tôi như bên dưới. Mong các bạn sẽ tư vấn giúp tôi qua địa chỉ email này hoặc qua số điện thoại bên dưới.

Người gửi: Liên

Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài điện thoại: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục. Câu hỏi của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Khoản 2, Điều 92 - Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định:

Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc, con dưới 3 tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi nếu các bên không có thỏa thuận khác”.

Đồng thời, điểm d mục 11 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có quy định cụ thể về vấn đề trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn như sau: :

d. Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về người trực tiếp nuôi con thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Nếu con từ đủ chín tuổi trở lên, thì trước khi quyết định, Toà án phải hỏi ý kiến của người con đó về nguyện vọng được sống trực tiếp với ai”

Về nguyên tắc, con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi con, nếu các bên không có thoả thuận khác”

Do cháu bé mới được 3 tuổi nên về nguyên tắc, quyền nuôi con trong trường hợp này thuộc về người mẹ.

Căn cứ vào quy định tại các điều 34, điều 36, điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì việc chăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con là quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ. Cha, mẹ chỉ bị hạn chế quyền này trong các trường hợp được quy định tại Điều 41 Luật Hôn nhân và gia đình:

Điều 41. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

“Khi cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phát tán tài sản của con; có lối sống đồi trụỵ, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì tuỳ từng trường hợp cụ thể Toà án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 42 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Toà án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này”

Do vậy, trong trường hợp của bạn vừa nêu, nếu chị dâu bạn không thuộc trường hợp quy định tại Điều 41 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, đồng thời không có bản án có hiệu lực của tòa án tuyên hạn chế quyền của chị dâu bạn đối với người con thì bạn và gia đình bạn không có quyền ngăn cản việc chị dâu bạn đưa con ra nước ngoài.

>> Tham khảo: Luật sư tư vấn vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại;

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?

4. Phải làm gì khi hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế ?

Kính chào luật sư! Tôi có xem trên mạng, nếu một vụ kiện dân sự chưa xử mà cứ trì hoãn kéo dài thì sẽ đến một thời gian nào đó sẽ hết hiệu lực vụ kiện đó. Vậy có đúng không? Tôi rất lo, do tôi có một vụ kiện liên quan đến thừa hưởng tài sản do ông tôi để lại là căn nhà (có di chúc do ông để lại nhưng bản gốc bị trộm mất).
Vì vậy có tranh chấp giữa các thành viên khác đòi chia căn nhà, tôi có đưa ra bản sao có công chứng nhưng họ bảo là giả. Vì vậy tôi mới yêu cầu ra tòa để chứng minh bản sao tờ di chúc của tôi là thật hay giả nhưng đã hơn 3 năm rồi vẫn chưa xử, tháng 3 năm ngoái tòa yêu cầu đóng án phí và tôi đã thực hiện đầy đủ mọi yêu cầu của tòa nhưng vẫn là chờ. Kính mong luật sư tư vấn cho tôi, nếu điều đó xảy ra (hết thời hạn khởi kiện) tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?
Xin cảm ơn luật sư.

Từ chối thừa kế, có trách nhiệm trả nợ cho người đã mất ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế:

"Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Và theo khoản 2.4 Phần I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình.:

"2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Như vậy, theo quy định trên thì khi đã hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế mà các bên có tranh chấp thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.

(Đối với trường hợp của bạn là tranh chấp về thừa kế thì thời hạn chuẩn bị xét xử là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị Xét Xử, nhưng không quá hai tháng nên thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa với vụ việc này là 6 tháng.

Căn cứ điều 179 Bộ Luật Tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 sửa đổi của Quốc hội:

"Điều 179. Thời hạn chuẩn bị xét xử

1. Thời hạn chuẩn bị Xét Xử các loại vụ án được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị Xét Xử, nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

2. Trong thời hạn chuẩn bị Xét Xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Tòa án ra một trong các quyết định sau đây:

a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án;

c) Đình chỉ giải quyết vụ án;

d) Đưa vụ án ra Xét Xử.

3. Trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra Xét Xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng.

"Điều 180. Nguyên tắc tiến hành hòa giải

1. Trong thời hạn chuẩn bị Xét Xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 181 và Điều 182 của Bộ luật này.

2. Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình;

b) Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc trái đạo đức Xã hội."

Nếu vụ án này rơi vào trường hợp không được hòa giải theo điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự:

"1. Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.

2. Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức Xã hội."

Theo đó sẽ không có thủ tục hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử mà trong thời hạn chuẩn bị xét xử đó hoặc khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án sẽ ra một trong các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ hoặc đưa vụ án ra xét xử. Nếu có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì thời hạn mở phiên tòa tối đa 2 tháng.

Do bạn đã thực hiện thủ tục đóng tiền án phí từ tháng 3 năm ngoái thì có nghĩa là vụ án đã được thụ lý nhưng chưa được giải quyết. Nếu quá thời hạn chuẩn bị xét xử và thời hạn mở phiên tòa theo quy định mà tòa án không giải quyết vụ việc thì bạn có thể khiếu nại vấn đề này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Người thừa kế thế vị là gì ? Quy định về người thừa kế thế vị ? Cách chia tài sản theo di chúc ?

5. Thừa kế theo pháp luật được quy định như thế nào ?

Bố mẹ em đã mất và không để lại di chúc. Bố mẹ em sinh được 3 người con: em, em trai và em gái. Hiện nay em gái em mới bị tâm thần.Bố em còn có người mẹ đẻ là bà nội em và bà nội em đã 84 tuổi.

Bố mẹ em có để lại căn nhà và phần đất ruộng chung. Phần tài sản của bố mẹ em được chia như thế nào? Nếu em gái em được hưởng thừa kế và em muốn quản lý số tài sản đó cho em gái em thì em phải làm gì?

Em mong chị tư vấn sớm cho em vì bà nội và em trai em muốn bán hết số tài sản đó đi nhưng em không muốn bán và muốn giữ cho hai em của em.

Em xin chân thành cảm ơn!

Thừa kế theo pháp luật được quy định như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khi người chết không để lại di chúc thì di sản của họ sẽ được chia theo quy định của pháp luật nếu các đồng thừa kế không có thỏa thuận khác. Giữa anh chị em bạn và ông bà bạn có thể thỏa thuận phân chia di sản này. Để thỏa thuận đó hợp pháp và có giá trị pháp lý thì cần phải lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại Phòng công chứng. Căn cứ trên văn bản đã được công chứng hợp pháp, bạn và những người thừa kế khác có thể thực hiện thủ tục để được cấp giấy chứng nhận đối với những tài sản mà pháp luật bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu.

Nếu không thỏa thuận được, các đồng thừa kế có quyền yêu cầu Tòa án chia di sản theo quy định của pháp luật, di sản sẽ được chia đều cho các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ bạn gồm: cha mẹ ruột, cha mẹ nuôi của người chết (tức là ông bà nội ngoại của bạn-nếu còn sống); con ruột, con nuôi của cha mẹ bạn-tức là các anh chị em bạn.

Về việc quản lý phần tài sản của em gái bạn thì cần phần biệt hai trường hợp. Nếu em gái bạn chưa thành niên nay cha mẹ bạn đã chết thì bạn là con cả nên bạn sẽ là người giám hộ đương nhiên của em gái bạn nếu bạn có đủ điều kiện làm người giám hộ.

Trong trường hợp em gái bạn đã thành niên và bị mắc bệnh tâm thần thì trước hết phải gửi đơn đến Tòa án để được Tòa án ra quyết định tuyên bố em bạn bị mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định. Trong trường hợp này thì bạn không đương nhiên là người giám hộ cho em gái bạn, việc cử người giám hộ sẽ do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của em gái bạn thực hiện. Nếu bạn đủ các điều kiện giám hộ, bạn có thể làm đơn yêu cầu gửi đến UBND có thẩm quyền cử người giám hộ để cử bạn làm người giám hộ cho em gái bạn.

Theo quy định tại Điều 60 Bộ luật Dân sự thì cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

- Có tư cách đạo đức tốt; không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác;

- Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ.

Khi trở thành người giám hộ cho em gái bạn, bạn có trách nhiệm quản lý tài sản của em gái như tài sản của chính mình và bạn có quyền Sử dụng tài sản của em gái bạn để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu cần thiết của cô ấyem gái bạn; Được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản của em gái bạn; Đại diện cho em gái bạn trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của em gái bạn.

Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và các giao dịch khác đối với tài sản có giá trị lớn của em gái bạn phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ. Bạn không được đem tài sản của em gái bạn tặng cho người khác cũng như không được thực hiện giao dịch với chính mình trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của em gái bạn và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

Cũng xin nói thêm, ở đây người giám sát việc giám hộ là người do những người thân thích của em gái bạn cử ra để theo dõi, đôn đốc, kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ, cũng như xem xét kịp thời những đề nghị, kiến nghị của người giám hộ liên quan đến việc giám hộ.

Việc giám hộ sẽ chấm dứt khi em gái bạn có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tức là khi được Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kê - Luật MinH Khuê

>> Xem thêm:  Di chúc là gì ? Quy định về phân chia di sản thừa kế theo di chúc ? Chia thừa kế theo di chúc ?