1. Tranh chấp đòi thừa kế quyền sử dụng đất ?

Thưa luật sư, Tôi muốn nhờ anh/chị tư vấn giúp tôi vấn đề như sau: Ông tôi có 1 căn nhà cấp bốn và 1 mảnh vườn có từ thời năm 1950, sử dụng từ đó cho đến nay nhưng chưa sang tên cho bố tôi và đóng thuế đất đai đầy đủ. Nay bố tôi đã chết và để lại di chúc chia cho các anh em tôi. Di chúc có chữ ký của bố mẹ tôi và UBND phường đóng dấu. Nay con riêng của bà nội tôi tức là chú - em của bố tôi cùng mẹ khác cha về đòi hồi môn chia đất đai. Cách đây khoảng 25 năm anh em của bố tôi đã kiện nhau ra tòa nhưng sau đó lại xin rút đơn kiện vì tòa khuyến khích giải quyết chuyện nội bộ tình cảm gia đình xong xuôi. Bây giờ đã hơn 25 năm, chú tôi lại quay lại kiện đòi hồi môn.
Xin hỏi anh như vậy có đúng luật không? Và nhờ anh tư vấn xem chú tôi có được quyền kiện lại không?
Cảm ơn anh!

Luật sư tư vấn:

Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà là tài sản chung của ông, bà quý khách. Sau khi ông bà mất, không để lại di chúc, di sản của ông, bà là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà đã được bố quý khách tiếp quản và sử dụng từ đó cho đến nay.

Pháp luật đặt ra quy định về thời hiệu khởi kiện phân chia di sản thừa kế là 30 năm đối với bất động sản để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người thừa kế, Nếu những người thừa kế để quá thời hiệu khởi kiện (quá 30 năm) thì di sản thừa kế sẽ thuộc quyền sử dụng của người thừa kế đang quản lý di sản.

Như vậy, nếu ông, bà của quý khách đã mất trên 30 năm và bố quý khách là người đang quản lý di sản thì quyền sử dụng, quyền sở hữu nhà sẽ là tài sản của bố quý khách. Khi đó, những người thuộc hàng thừa kế cùng loại đều không có quyền khởi kiện phân chia tài sản đó.

Nhưng nếu thời hiệu khởi kiện chưa hết, bất cứ ai trong số những người thuộc hành thừa kế cùng loại đều có quyền khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà của ông/bà theo Bộ luật dân sự năm 2015:

"Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Như vậy, nếu chú ấy là con hợp pháp của ông và thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì chú ấy có quyền khởi kiện phân chia di sản thừa kế.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tranh chấp về đất không có di chúc ? Làm thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

2. Bố Mẹ ruột có được hưởng quyền thừa kế của con ?

Chào Luật sư, chồng tôi có con riêng và chung sống với vợ chồng tôi từ nhỏ. Khi chồng tôi mất có lập di chúc cho tôi và các con. Nhưng sau đó chẳng may con riêng của chồng tôi cũng qua đời khi chưa lập gia đình.
Vậy mẹ ruột của con chồng tôi có nhận được quyền thừa kế tài sản của con chồng tôi không ?
Xin Luật sư tư vấn giúp! Tô xin chân thành cảm ơn !

Mẹ ruột nhưng không nuôi con thì có được nhận quyền thừa kế của con ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về quyền thừa kế, gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định những người không được quyền hưởng di sản như sau:

"Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc."

Do vậy, nếu như bạn không thể chứng minh mẹ ruột của cháu bé có những hành vi: xâm phạm tính mạng, sức khỏe của cháu bé, ngược đãi nghiêm trọng tới cháu bé,... thì mẹ ruột của cháu bé vẫn được hưởng ít nhất 2/3 suất của 01 người thừa kế theo pháp luật quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết tiền đền bù đất khi có tranh chấp ? Mức thuế khi chuyển mục đích sử dụng đất ?

3. Con có quyền thừa kế mảnh đất tái định cư hay không ?

Thưa luật sư! Mẹ tôi có mảnh đất bị nhà nước thu hồi để xây dựng trụ sở làm việc có quyết định thu hồi tháng 9/2007. Mẹ bị bệnh chết vào tháng 3/2008. Do có tranh chấp nên chưa nhận tiền bồi thường và tái định cư, bị tạm giữ tại cơ quan UBND huyện chờ kết quả xét xử.

Đến năm 2015, Tòa án xét xử, kết quả tôi là người có toàn quyền thừa kế và đã nhận tiền bồi thường nhưng chưa được cấp lô đất theo như các hộ xung quanh. UBND huyện thay đổi ý kiến là người chết không cấp đất, không cấp cho người thừa kế. Vậy tôi có được quyền yêu cầu giao lô đất tái định cư không và thủ tục như thế nào nếu có?

Mong luật sư tư vấn giúp.Tôi xin cám ơn Luật sư đã quan tâm, chia sẻ thông tin.

Con có quyền thừa kế mảnh đất tái định cư cho người Mẹ đã mất không ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 82 Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội quy định về các trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất như sau:

"Điều 82. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất

Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:

1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này;

2. Đất được Nhà nước giao để quản lý;

3. Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này;

4. Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này."

Điểm a, b, c khoản 1 Điều 65 Luật đất đai 2013:

"Điều 65. Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người

1. Các trường hợp thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người bao gồm:

a) Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;

b) Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;

c) Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;

d) Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn;"

Như vậy, theo quy định ở trên, trường hợp của bạn chỉ không được đền bù thu hồi đất khi mẹ bạn mất mà không có người thừa kế. Ở đây mẹ bạn vẫn có người thừa kế theo pháp luật là bạn, nên bạn sẽ có quyền thừa kế đối với phần bồi thường mà mẹ bạn được hưởng khi Nhà nước thu hồi đất. Về nguyên tắc bồi thường được quy định tại Điều 74 Luật đất đai 2013 như sau:

"Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật."

Trong trường hợp này sẽ căn cứ vào quỹ đất của địa phương. Trường hợp có đất thì sẽ bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất bị thu hồi. Trường hợp quỹ đất của địa phương không đủ để bồi thường thì sẽ tiến hành bồi thường bằng tiền. Như vậy, có 2 hình thức đó là bồi thường bằng tiền hoặc bằng bồi thường bằng đất. Trong trường hợp bạn đã nhận tiền bồi thường thì sẽ không được bồi thường bằng đất nữa.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tính toán bồi thường thiệt hại trong tranh chấp hợp đồng ? Quyền thừa kế đất đai ?

4. Thủ tục chuyển nhượng đất thừa kế, đất rừng như thế nào ?

Xin hỏi luật sư : Trường hợp 1: Đất của tôi được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là người đại diện thừa kế : Nguyễn Văn A . Vậy nay tôi muốn chuyển nhượng đất này tôi phải làm thủ tục như thế nào ?

Trường hợp 2: Ông Nguyễn Văn B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất( sổ đỏ) loại đất là đất rừng phòng hộ ( RTP). Nhưng vào năm 2000 ông Nguyễn Văn B tự ý thực hiện các mua bán giấy tay cho 10 người ở trên đất của mình và cũng vào năm 2000 thì 10 hộ dân mua giấy tay đó xây dựng nhà ở trên đất. Nay tại vị trí đất của ông Nguyễn Văn B cho phép chuyển mục đích sang đất ở theo quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt. và đo đạc lại thì diện tích đã xây dựng nhà của các hộ dân trên đất đã mua của ông Nguyễn Văn B là 700 m2.

Vậy trường hợp của ông Nguyễn Văn B sẽ làm như thế nào để tách thửa , chuyển nhượng và chuyển mục đích cho các hộ dân là hợp pháp và đúng theo quy định của nhà nước ?

Người gửi: Phú Nguyễn Thị
Tranh chấp đòi thừa kế quyền sử dụng đất giữa hai anh Em cùng cha khác mẹ ?

Trả lời:

1. Vấn đề đồng sở hữu đất đai ?

Đối với câu hỏi thứ nhất, căn cứ theo Thông tư 23/2014/TT-BTNMT về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, trường hợp này, quyền sử dụng mảnh đất trên là tài sản thuộc sở hữu chung của các đồng thừa kế và các đồng thừa kế thống nhất để bạn đại diện đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đây là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung nên khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trên hợp đồng công chứng phải có chữ kí của tất cả các đồng sở hữu. Sau đó thủ tục thực hiện như thông thường.

2. Thủ tục xin cấp giấy chứng nhận như thế nào ?

- Đối với câu hỏi thứ hai, bản thân các hộ dân mua đất của ông B có thể làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 100 Luật Đất đai 2013: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ thì được thực hiện theo quy định như sau:

Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi chung là quy hoạch) hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở. Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó; Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác trong thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là không có tranh chấp sử dụng đất; phù hợp với quy hoạch hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đất đã sử dụng từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch; chưa có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp phải thu hồi thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở (sau đây gọi là hạn mức giao đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở. Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó; Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau: Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp; diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước; Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức thuê đất của Nhà nước đối với diện tích đất đang sử dụng; Đối với đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có nhà ở, công trình xây dựng khác mà không được công nhận là đất phi nông nghiệp thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo mục đích hiện trạng đang sử dụng; nếu người sử dụng đất đề nghị chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong các trường hợp quy định tại Điều này thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định ?

Theo Luật đất đai 2013 thì việc sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).
Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:
- Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;
- Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;
- Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;
- Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;
- Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;
- Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;
- Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;
- Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;
- Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;
- Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.
- Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định như trên có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.
- Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ như trên hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất.

Đối chiếu với các quy định nêu trên, do đất của các hộ dân hiện đang sử dụng không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch đã được duyệt, sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/07/2004 (ngày luật đất đai hiện hành có hiệu lực), các hộ dân trên có thể làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, họ phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ: Dịch vụ tư vấn đăng ký thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

5. Chia thừa kế với người độc thân như thế nào ?

Chào văn phòng Luật Minh Khuê, tôi là cháu gái của Nguyễn Văn A, tôi cư trú 10 năm tại nhà Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn A nuôi dưỡng tôi ăn học và các chi phí sinh hoạt khác. Nguyễn Văn A độc thân, không chồng, không con cái và mất đột ngột. Theo pháp lý, người được thừa hưởng là anh/chị/em của Nguyễn Văn A.​ Anh/chị/em của Nguyễn Văn A đều thừa nhận tôi vừa là cháu, vừa là con.
Vậy tôi có được thừa hưởng gì hay không ? Và nếu không sang tên hay chuyển nhượng thì đất có bị thu hồi không ? Tôi phải làm thế nào để giữ mảnh đất này lại để không bị tranh chấp ?
Xin tư vấn giúp tôi. Xin chân thành cảm ơn công ty !

Luật sư trả lời:

Vì Nguyễn Văn A mất mà không có di chúc nên di sản thừa kế sẽ phải chia theo Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về hàng thừa kế như sau:

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Trường hợp này, A không có vợ- con; nếu bố mẹ của A cũng mất thì sẽ chia thừa kế theo hàng thừa kế thứ 2 là: anh chị em của A. Vì thế, bạn sẽ không được chia thừa kế theo pháp luật vì nguyên tắc những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước.

Tuy nhiên, để được hưởng toàn bộ di sản thừa kế của A bạn có thể nhờ những người thừa kế ở hàng thứ 2 làm bản thỏa thuận từ chối nhận di sản để chuyển xuống hàng thừa kế thứ 3 là bạn: cháu ruột của người mất.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai về thừa kế nhà đất, gọi: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vợ chồng là khi nào ? Di chúc miệng có hiệu lực không ?