1. Thủ tục chuyển giao và tiếp nhận vật chứng, tài sản tạm giữ

Theo quy định tại Điều 122 Luật thi hành án dân sự, vật chứng, tài sản tạm giữ trong bản án, quyết định hình sự do yêu cầu phục vụ việc xét xử mà chưa được chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự trong giai đoạn truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự tại thời điểm chuyển giao bản án, quyết định. Việc giao, nhận vật chúng, tài sản tạm giữ được tiến hành tại kho của cơ quan thi hành án dân sự. Bên giao có trách nhiệm vận chuyển vật chứng, tài sản tạm giữ đến kho của cơ quan thi hành án dân sự. Đối với vật chứng, tài sàn không thể vận chuyển, di dời về bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự thì địa điểm giao nhận vật chứng, tài sản là nơi đang gửi, giữ hoặc nơi đang có tài sản. Việc tiếp nhận tài sàn phải có sự tham gia đầy đủ của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự hoặc người được thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ quyền, thủ kho, kế toán. Xem: Thông tư của Bộ tài chính số 159/2014/TT-BTC ngày 18/08/2014 hướng dẫn thực hiện một sổ nội dung của Nghị định của Chính phủ số 29/2014/NĐ-CP ngày 10/4/2014 quy định về tham quyền, thủ tục, xác lập qúyền sở hữu của Nhà nước về tài sàn và quàn lí, xử lí tài sản được xác lập quyền sở hữu của nhà nước.

Trên cơ sở việc chuyển giao vật chứng, tài sản tạm giữ, trước khi xử lí, cơ quan thi hành án dân sự tiến hành việc tiếp nhận các tài sản, vật chứng do cơ quan công an hoặc toà án đó thì cơ quan thi hành án dân sự chỉ tiếp nhận khỉ có kết luận giám định của cơ quan có thẩm quyền.

2.Thủ tục thi hành khoản tịch thu sung quỹ nhà nước và tiêu huỷ tài sản

Theo quy định tại Điều 124 Luật thi hành án dân sự, sau khi cơ quan thi hành án dân sự tiến hành việc tiếp nhận vật chúng, tài sản tạm giữ theo bản án, quyết định của toà án bị tịch thu, sung quỹ nhà nước thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản và tiến hành giao vật chúng, tài sàn tạm giữ đó cho cơ quan tài chính cùng cấp. Đối với tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước do cơ quan thi hành án cấp quân khu thi hành thì chuyển giao cho cơ quan tài chính cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu có trụ sở.

Theo quy định tại Điều 32 Nghị định của Chính phủ số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 thì cơ quan tài chính cùng cấp với cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án, cơ quan tài chính cấp tỉnh nơi có trụ sờ với cơ quan thi hành án cấp quân khu hoặc nơi đang lưu giữ vật chứng, tài sản có trách nhiệm tiếp nhận để xử lí vật chứng, tài sản bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước theo quy định tại Điều 124 Luật thi hành án dân sự và pháp luật về xác lập quyền sờ hữu của Nhà nước về tài sản và quàn lí, xử lí tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước. Cơ quan thi hành án dân sự thông báo và ấn định cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận vật chứng, tài sản trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày được thông báo để tiếp nhận. Hốt thời hạn nêu trên mà không tiếp nhận vật chứng, tài sản thì cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận phải thanh toán các khoản chỉ phí cho nơi tịch thu tang vật, phương tiện; công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tịch thu tang vật, phương tiện; cơ quan nhà nước được phép sử dụng công cụ hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.

- Đối với tài sản là chất phóng xạ được chuyển giao cho Viện năng lượng nguyên tử thuộc Bộ khoa học và công nghệ.

- Đối yới tài sản là lâm sản quý hiếm được chuyển giao cho cục kiểm lâm, cho cục kiểm lâm cấp tỉnh, hạt kiểm lâm cấp huyện, hạt kiểm lâm rừng đặc dụng, hạt kiểm lâm rừng phòng hộ để thả lại nơi cư trú tự nhiên của động vật rừng còn sống; vườn thú do nhà nước quản lí; các cơ quan nghiên cứu khoa học; bảo tàng thiên nhiên.

- Đối với tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ, chứng chỉ có giá, vàng, bạc, đá quý, kim loại quý, cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận là kho bạc nhà nước cấp tỉnh (đối với tài sản do người có thẩm quyền của cơ quan trung ương và cấp tỉnh tịch thu); kho bạc nhà nước cấp huyện (đối với tài sản do người có thẩm quyền của cơ quan cấp huyên và cấp xã tịch thu);

>> Xem thêm:  Thủ tục thi hành quyết định về phá sản ? Thi hành án khi doanh nghiệp pháp sản ?

- Đối với tài sản là thuốc chữa bệnh, trang thiết bị phục vụ chữa bệnh, cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận là cơ quan quản lí y tế.

Cơ quan thi hành án dân sự thông báo và ấn định cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận vật chứng, tài sản trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo để tiếp nhận. Hết thời hạn nêu trên mà không tiếp nhận vật chứng, tài sản thì cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận phải thanh toán các khoản chi phí cho việc bào quản tài sản và phải chịu mọi rủi ro kể từ thời điểm chậm tiếp nhận. Chi phí xử lí vật chúng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch quan đã tiếp nhận tài sản đó hoàn trả lại tài sản theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 125 Luật thi hành án dân sự, đối với các tài sản, vật chứng bị tuyên tịch thu, tiêu hủy thì trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thành lập hội đồng tiêu hủy theo bàn án, quyết định, trừ trường hợp pháp luật quy định phải tiêu hủy ngay. Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản gồm chấp hành viên là chủ tịch hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp là thành viên, đại diện cơ quan chuyên môn tham gia hội đồng khi cần thiết. Việc tiêu hủy bắt buộc có sự tham gia của đại diện viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tiêu hủy.

Theo quy định tại Điều 33 Nghị định của Chính phủ số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 thì hội đồng tiêu huỷ vật chứng, tài sản thực hiện việc tiêu huỷ vật chứng, tài sản trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày được thành lập. Việc tiêu huỷ các loại vật chứng, tài sản được thực hiện bằng các hình thức đốt cháy, đập vỡ hoặc hình thức phù hợp khác.

Trường hợp tiêu huỷ các hoá chất độc hại hoặc các vật chứng, tài sản khác mà cần thiết phải có các ừang thiết bị chuyên dùng hoặc chuyên gia thì chấp hành viên kí hợp đồng với chuyên gia, cơ quan bảo đảm điều kiện tiêu huỷ vật chứng, tài sản để thực hiện việc tiêu huỷ đảm bảo an toàn và khổng làm ảnh hưởng đến môi trường tại nơi tiêu huỷ. Kinh phí tiêu hủy vật chứng, tài sản do ngân sách nhà nước chi trả.

Để có căn cứ xác định việc tiêu huỷ tài sản và trách nhiệm của những người liên quan, khi tiêu huỷ tài sản phải lập biên hành viên thông báo cho đương sự thời gian, địa điểm nhận lại tiền, tài sản. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông báo mà đương sự không đến nhận tiền thì chấp hành viên gửi số tiền đó theo hình thức tiết kiệm không kì hạn và thông báo cho đương sự. Hết thời hạn 3 tháng, kể từ ngày thông báo nhưng đương sự không đến nhận tài sản mà không có lí do chính đáng thì chấp hành viên cho định giá, bán tài sản theo quy định tại các điều 98, 99 và 101 Luật thi hành án dân sự và gửi sổ tiền thu được theo hình thức tiết kiệm không kì hạn, đồng thời thông báo cho đương sự. Hết thời hạn 5 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà đương sự vẫn không đến nhận số tiền đó mà không có lí do chính đáng thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước.

- Đối với tài sản không bán được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiêu huỷ và tổ chức tiêu huỷ tài sản theo quy định tại Điều 125 Luật thi hành án dân sự. Đối với giấy tờ liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó xử lí theo quy định.

- Trường hợp tài sản trà lại là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự mà đương sự từ chối nhận thì cơ quan thi hành án dân sự đề nghị ngân hàng nhà nước đổi tiền mới có giá trị tương đương để trà cho đương sự.

- Đối với tài sản trả lại là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng Không còn sử dụng được không do lỗi của các cơ quan tiến

>> Xem thêm:  Bảo quản tài sản kê biên trong tố tụng là gì ? Kê biên và xử lý tài sản của người phải thi hành án

3. Thủ tục thu án phỉ, tiền phạt và các khoản phải thu khác đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù

Theo quy định tại Điều 128 Luật thi hành án dân sự, giám thị hại giam, trại tạm giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thu các khoản tiền, tài sản mà người phải thi hành án, thân nhân của người phải thi hành án nộp để thi hành án và chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự xử lí theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người phải thi hành án chuyển trại giam, trại tạm giam hoặc được đặc xá, được miễn chấp hành hình phạt tù hoặc chết thì giám thị trại giam, trại tạm giam nơi người đó chấp hành hình phạt tù phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan Thi hành án dân sự.

Ngoài ra, khi thi hành án về thu tiền án phí, tiền phạt và các khoản thu khác đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù nếu người phải thi hành án không có điều kiện Thi hành án thì chấp hành viên chủ động tiến hành việc xác minh điều kiện thi hành án của họ và thời hạn xác minh giữa các lần không quá một năm.

4. Thủ tục trả lại tiền, tài sản cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù

Theo quy định tại Điều 129 Luật thi hành án dân sự, đối với trường hợp thi hành quyết định trả lại tiền, tài sản cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thì chấp hành viên gửi thông báo, quyết định về việc nhận lại tiền, tài sàn cho người được thi hành ắn đang chấp hành hình phạt tù thông qua giám thị trại giam, trại tạm giam.

Trường hợp người được thi hành án uỷ quyền cho người

Thứ nhất, quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời thuộc trường hợp được thi hành ngay

Mục đích của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là để nhằm bảo đảm nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng hoặc bảo đảm cho việc thi hành án khi có bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự. Trên thực tế, có những trường hợp toà án đã không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay dẫn đến chứng cứ quan trọng đã bị huỷ hoại không thể khôi phục được hoặc bên có nghĩa vụ đã tâu tán tài sản làm cho bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự không thể thi hành được. Vì vậy, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ phát huy được tác dụng khi quyết định này được thực hiện nhanh chóng ngay sau khi toà án ra quyết định.

Thứ hai, quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời thuộc trường hợp cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành

>> Xem thêm:  Xã hội hoá thi hành án dân sự là gì ? Nguyên tắc của luật thi hành án dân sự

Trong thi hành án dân sự, thông thường cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định thi hành án khi người được thi hành án, người phải thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Tuy nhiên, vì việc thi hành quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được thực hiện nhanh chóng nên các quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời thuộc trường hợp cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành. Theo quy định tại khoản 1 Điều 130 Luật thi hành án dân sự, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được quyết định thi hành án, chấp hành viên phải áp dụng ngay biện pháp bảo đàm, biện pháp cưỡng chế.

Thứ ba, việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có sự thay đổi ngay khi toà án quyết định thay đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ biện pháp này trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động;

- Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 71 Luật thi hành án dân sự để bảo đảm thi hành quyết định về buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;

- Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự quy định tại Điều 75 Luật thi hành án dân sự để đảm bảo thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định về kê biên tài sản đang tranh chấp;

- Biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 3 Điều 71 và các Điều 98, 99, 100 và 101 Luật thi hành án dân sự để thi hành quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời về cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hoá khác.

Như vậy, chấp hành viên phải căn cứ vào việc phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nào theo quy định của pháp luật để lựa chọn áp dụng biện pháp bào đàm, biện pháp cưỡng chế phù hợp theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

Ngoài ra, sau khi quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà toà án ra quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì thù trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định để thi hành. Theo quy định tại Điều 131 biện pháp khẩn cấp tạm thời, khi nhận được quyết định thay đổi hoặc áp dụng bổ sung quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của toà án, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra ngay quyết định thi hành bản yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch đối với tài sản đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đối với tài sản đó. Xem: Khoản 11 Điều 1 Nghị định của Chính phù số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định sổ 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sổ điều của Luật thi hành án dân sự. Khi thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cơ quan thi hành án dân sự thấy cần uỷ thác thi hành án thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ được uỷ thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản đối với những biện pháp khẩn cấp tạm thời như cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định; giao người chưa thành niên cho cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động; kê biên tài sản đang tranh chấp; cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hoá khác.

Khi người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi khác thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ được ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản đối với các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như: cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định; giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trổng nom, nuôi dưỡng, châm hành các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, việc thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện trên cơ sở kết hợp với việc thi hành các phần bản án, quyết định khác giải quyết vụ việc dân sự.

Trước khi các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thậm, tái thẩm thì các bản án, quyết định này có thể đang được đưa ra thi hành, đã thi hành một phần hoặc thi hành xong. Khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm có thể có các quyết định giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật đã bị huỷ hoặc bị sửa; huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại hoặc huỷ bản án, quyết định đã cỏ hiệu lực pháp luật và đinh chỉ việc giải quyết vụ án. Vì vậy, để thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, cơ quan thi hành án dân sự không chỉ thi hành theo nội dung quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà còn thi hành theo nội dung của bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định được hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên.

>> Xem thêm:  Thi hành án dân sự là gì ? Quy định pháp luật về thi hành án dân sự

Thứ hai, việc thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm phải kết hợp với việc xử lí hậu quả cùa việc đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định bị kháng nghị.

Trước khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm đã có bàn án, quyết định có hiệu lực pháp luật và bản án, quyết định này có thể đã thi hành được một phần hoặc thi hành xong. Vì vậy, để bảo đảm sự thống nhất khi thi hành quyết định giám đốc có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. Theo quy định tại Điều 134 Luật thi hành án dân sự, trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà bản án, quyết định đó chưa thi hành hoặc đã thi hành được một phần thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án. Trường hợp bản án, quyết định đó đã thi hành xong thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho toà án đã ra quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, viện kiểm sát cùng cấp và đương sự. Tuy nhiên, nếu người được thi hành án trước đây chưa có đơn yêu cầu thi hành án và thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án thì sau khi toà án ra quýết định giám đốc thẩm, tái thẩm trong trường hợp này toà án cần giải thích quyền yêu cầu thi hành án cho họ.

5. Thủ tục thi hành quyết định giảm đổc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đủng pháp luật của toà án cấp dưới đã bị huỳ hoặc bị sửa

Quyết định huỷ bàn án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của toà án cấp dưới đã bị huỷ bỏ hoặc sửa đổi thường có nội dung thay đổi lớn so với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. Vì vậy, khi thi hành quyết định này phải cãn cứ vào nội dung của quyết định giám đốc thẩm và đồng thời phải căn cứ vào việc bản án, quyết định bị kháng nghị trước đây đã được thi hành hay chưa, thi hành được những nội dung gỉ để có thể áp dụng các biện pháp thích hợp. Theo quy định tại Điều 135 Luật thi hành án dân sự, việc thi hành quyết định giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng trường hợp này là giá tài sản trên thị trường ở địa phương tại thời điểm giải quyết việc bồi thường. Trường hợp phát sinh thiệt hại do việc ra bản án, quyết định trái pháp luật và có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại thì được giải quyết theo quy định của pháp luật.

6. Thủ tục thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hựỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có đặc điểm là làm chấm dứt hiệu lực thi hành của bản án, quyết định bị huỷ bỏ. Tuỳ từng trường hợp việc thi hành sau đó có thể để khắc phục những hậu quả do việc bản án, quyết định bị huỷ bỏ trước đó đã thi hành được một phần hoặc thi hành xong hay việc thi hành sau đó theo bản án, quyết định mới của toà án về giải quyết lại vụ việc. Theo quy định tại Điều 136 Luật thi hành án dân sự thì việc thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được thực hiện như sau:

- Trường hợp hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại thì việc thi hành được thực hiện theo bản án, quyết định sơ thẩm mới có hiệu lực pháp luật hoặc bản án, quyết định phúc thẩm mới. Xem: Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao sổ 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự.

- Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án và đình hưởng tiêu cực, mặt khác phát huy tính tích cực của phá sản đối với đời sống kinh tế-xã hội.

>> Xem thêm:  Thủ tục yêu cầu thi hành án dân sự ? Điều kiện cưỡng chế thi hành án đối với vụ án dân sự ?

Về nguyên tắc, hầu hết các bản án, quyết định cùa toà án trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản được thi hành theo thù tục do pháp luật về phá sản quy định. Vì vậy, chỉ một số quyết định về phá sản được thi hành theo thù tục thi hành án dân sự. Việc thi hành quyết định về phá sản có những khác biệt nhất định so với việc thi hành các bản án, quyết định dân sự khác ở những điểm sau:

- Thi hành quyết định về phả sản cỏ liên quan mật thiết với thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bổ doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.

Khi bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật, nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì theo yêu cầu của người được thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức việc thi hành án. Tuy nhiên, sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án mà toà án thụ lí đơn yêu cầu hoặc ra quyết định mở thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án thì việc thi hành án các nghĩa vụ tài sản theo các bản án, quyết định có thể bị tạm thời ngừng lại hoặc ngừng lại. Khi có quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản hoặc đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh thì việc thi hành án của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ sẽ được khôi phục lại. Như vậy, việc thi hành các quyết định về phá sản phụ thuộc vào quá trình giải quyết yêu cầu phá sản, khi toà án ra các quyết định khác nhau.

động cần thiết cho việc thanh lí tài sản hoặc làm tăng thêm khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; quyết định đình chỉ thủ tục thanh lí tài sản; quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản ... Việc thực hiện các công việc và các quyết định này theo quy định của pháp luật về phá sản không phải là đối tượng cùa thi hành án quyết định về phá sản. Tuy nhiên, để bảo đảm việc giải quyết yêu cầu tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì một số yêu cầu, quyết định của toà án được ban hành trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự như quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật dân sự, luật thi hành án dân sự về kê biên tài sản. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến. Đội ngũ luật sư luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê