Chào luật sư, hiện tại tôi đang tìm hiểu về hoạt động giám định tư pháp. Xin luật sư cho hỏi pháp luật quy định các trường hợp nào bắt buộc phải thực hiện giám định tư pháp? Ngoài các trường hợp đó thì có được yêu cầu giám định hay không? Phí giám định tư pháp được thực hiện như thế nào? Rất mong nhận được giải đáp của luật sư. Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Ngọc Dung - Hà Nam

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê. Nội dung bạn hỏi chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý

- Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi năm 2020)

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

2. Giám định tư pháp là gì?

Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này. (khoản 1 Điều 2 Luật Giám định tư pháp năm 2012 sửa đổi năm 2020)

Người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

>> Xem thêm:  Quyền tự yêu cầu giám định của đương sự trong vụ án dân sự ?

Người yêu cầu giám định là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận. Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo

3. Các trường hợp giám định tư pháp

Pháp luật hiện hành của Việt Nam có phân định thành hai loại trường hợp tiến hành giám định tư pháp: Các trường hợp bắt buộc phải tiến hành giám định tư pháp; Các trường hợp tiến hành giám định tư pháp theo yêu cầu.

3.1. Các trường hợp bắt buộc phải tiến hành giám định tư pháp

Hiện hành tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định. Cụ thể tại Điều 206 như sau:

Bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định:

1. Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án;

2. Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;

3. Nguyên nhân chết người;

4. Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;

5. Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ;

6. Mức độ ô nhiễm môi trường.

Bên cạnh đó, tại Điều 103 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về việc giám định chứng cứ bị tố cáo giả mạo như sau:

1. Trường hợp chứng cứ bị tố cáo là giả mạo thì người đưa ra chứng cứ đó có quyền rút lại; nếu không rút lại thì người tố cáo có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Tòa án có quyền quyết định trưng cầu giám định theo quy định tại Điều 102 của Bộ luật này.

2. Trường hợp việc giả mạo chứng cứ có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án chuyển tài liệu, chứng cứ có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền xem xét theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

3. Người đưa ra chứng cứ được kết luận là giả mạo phải bồi thường thiệt hại nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác và phải chịu chi phí giám định nếu Tòa án quyết định trưng cầu giám định.

Như vậy, việc pháp luật quy định bắt buộc phải tiến hành giám định có nghĩa là trong các trường hợp đã nêu, nếu cơ quan tư pháp không yêu cầu tiến hành giám định thì quyết định, phán quyết của cơ quan tư pháp sẽ thiếu cơ sở pháp lý. Đó sẽ là một trong những lý do dẫn đến việc huỷ bỏ quyết định hoặc bản án đã tuyên.

Trong giao dịch dân sự, kinh tế, lao động vẫn có những trường hợp nghi ngờ về trạng thái tâm thần, về năng lực hành vi dân sự của các bên tranh chấp, về các trường hợp bất khả kháng, …. Việc làm rõ những mối nghi ngờ này cũng quan trọng và cần thiết cho việc bảo đảm tính khách quan, phù hợp vối sự thật của các quyết định, phán quyết của các cơ quan tư pháp khi điều tra xét xử các vụ án về dân sự, kinh tế, lao động. Bởi vậy, trong Bộ luật tố tụng dân sự tuy không quy định về các trường hợp bắt buộc phải giám định song vẫn quy định về quyền trưng cầu giám định và yêu cầu giám định của các bên.

3.2. Các trường hợp tiến hành giám định tư pháp theo yêu cầu

Ngoài các trường hợp phải tiến hành giám định như đã nêu tại Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, còn lại là những việc tiến hành giám định theo yêu cầu.

Đối với các trường hợp mà luật pháp không bắt buộc phải tiến hành giám định thì trong trường hợp cần thiết, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tự mình yêu cầu hoặc theo yêu cầu của đương sự trưng cầu giám định.

>> Xem thêm:  Quy định về chủ thể có quyền yêu cầu giám định tư pháp trong tố tụng dân sự ?

Khoản 3 Điều 2 Luật giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi năm 2020) giải thích: Người yêu cầu giám định là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận. Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

Theo đó, có thể thấy ngoài các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền trưng cầu giám định hoặc trưng cầu theo yêu cầu của đương sự thì bản thân đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự có quyền tự mình yêu cầu trưng cầu giám định. Quy này đã đảm bảo quyền yêu cầu giám định của đương sự không bị cản trở bởi bất cứ cơ quan tiến hành tố tụng nào.

4. Giám định viên tư pháp

Giám định viên tư pháp là người đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 7 của Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi năm 2020) được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm để thực hiện giám định tư pháp.

Để được bổ nhiệm giám định viên cá nhân cần đáp ứng các tiêu chuẩn như sau:

Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể được xem xét, bổ nhiệm giám định viên tư pháp:

- Có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt;

- Có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ đủ 05 năm trở lên.

Trường hợp người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự đã trực tiếp giúp việc trong hoạt động giám định ở tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự thì thời gian hoạt động thực tế chuyên môn từ đủ 03 năm trở lên;

- Đối với người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự phải có chứng chỉ đã qua đào tạo hoặc bồi dưỡng nghiệp vụ giám định.

>> Xem thêm:  Cố ý gây thương tích là gì ? Quy định về tội cố ý gây thương tích theo luật hình sự

Bên cạnh đó, người thuộc một trong các trường hợp sau không được bổ nhiệm giám định viên tư pháp:

- Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xoá án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

- Đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

Người giám định có quyền tiếp xúc với các tài liệu có liên quan đến đô'i tượng giám định, yêu cẩu cơ quan trưng cầu giám định cung cấp tài liệu cần thiết, vật mẫu có liên quan đến việc giám định, có quyền tham dự việc điều tra và đặt những câu hỏi có liên quan đến đốì tượng giám định.

Theo yêu cầu của quá trình xét xử, giám định viên có thể được triệu tập đến trình bày kết luận giám định tại phiên Tòa và trả lời những câu hỏi của những người tiến hành tô' tụng, những người tham gia tố tụng về những vấn đề có liên quan đến kết luận giám định. Tòa án có thể không chấp nhận kết luận giám định nhưng phải nêu rõ lý do. Các bên đương sự có quyền yêu cầu tiến hành giám định bổ sung hoặc giám định lại. Trong trưòng hợp phải giám định lại thì người giám định phải là người khác.

Người giám định đưa ra những kết luận giám định gian dối hoặc cung cấp những tài liệu mà đã biết rõ là sai sự thật thì chịu trách nhiệm hình sự theo tội tương ứng.

5. Thay đổi giám định viên

Pháp luật hiện hành của Việt Nam cho phép bị can, bị cáo, người bị hại, các bên đương sự và những người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho họ được quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành giám định.

Cơ sở pháp lý để yêu cầu thay đổi người tiến hành giám định có thể là:

>> Xem thêm:  Những trường hợp nào phải chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát giải quyết ?

Giám định viên đồng thời là người bị hại, người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan đến vụ án, là người đại diện hợp pháp, người thân thích của bị can, bị cáo, các bên đương sự, là người đã tiến hành tố tụng với tư cạch là điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký phiên tòa hoặc đã tham gia vổi tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người phiên dịch của vụ án đó, hoặc có các căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

Việc thay đổi giám định viên tại phiên tòa do Chánh án Tòa án quyết định.

6. Hoạt động giám định (Điều 209 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

Việc giám định có thể tiến hành tại cơ quan giám định hoặc tại nơi tiến hành điều tra vụ án ngay sau khi có quyết định trưng cầu, yêu cầu giám định; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, người yêu cầu giám định có thể tham dự giám định nhưng phải báo trước cho người giám định biết; việc giám định do cá nhân hoặc do tập thể thực hiện.

7. Phí giám định

Người yêu cầu giám định hoặc Tòa án, Viện kiểm sát tự mình trưng cầu giám định phải nộp tạm ứng tiền chi phí giám định. Các đương sự có yêu cầu tiến hành giám định nhưng không nộp tiền tạm ứng chi phí giám định thì việc giám định sẽ không được tiến hành. Những chi phí giám định liên quan đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của người lao động do người sử dụng lao động chịu. Trong xét xử các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, về nguyên tắc bên nào thua kiện phải chịu chi phí giám định.

Trong xét xử nếu đương sự đưa ra chứng cứ bị tố cáo là giả mạo thì đương sự đó có quyền rút lại chứng cứ đó. Nếu đương sự bị tố cáo là dùng chứng cứ giả mạo mà không rút thì Tòa án có quyền trưng cầu giám định. Người đưa ra chứng cứ giả mạo phải chịu phí tổn giám định. Nếu bằng chứng đó không phải là giả mạo thì đương sự đã tố cáo phải chịu phí tổn giám định. Nếu việc giả mạo chứng cứ có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án chuyển tài liệu giả mạo cùng các tài liệu có liên quan cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Việc pháp luật quy định ngưòi yêu cầu giám định phải nộp phí giám định trong trường hợp thua kiện có tác dụng giúp cho các bên đương sự phải hết sức thận trọng mỗi khi yêu cầu tiến hành giám định.

Trên đây là bài viết của chúng tôi về nội dung "trình tự, thủ tục thực hiện giám định tư pháp". Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)

>> Xem thêm:  Quyền miễn trừ quốc gia trong tư pháp quốc tế Việt Nam ? Vấn đề cải cách tư pháp

>> Xem thêm:  Thời hạn khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật ?

Câu hỏi thường gặp về trình tự giám định tư pháp

Câu hỏi: Đương sự được tự mình yêu cầu giám định tư pháp khi nào?

Trả lời:

Đương sự trong vụ án hình sự có quyền tự mình yêu cầu giám định tư pháp theo quy định sau:

1. Đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định. Trường hợp không chấp nhận đề nghị thì thông báo cho người đã đề nghị giám định biết bằng văn bản và nêu rõ lý do. Hết thời hạn này hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì người đề nghị giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định.

Câu hỏi: Người giám định có phải chỉ có giám định viên tư pháp?

Trả lời:

Không. Người giám định tư pháp bao gồm: giám định viên tư pháp và người giám định tư pháp theo vụ việc.

Câu hỏi: Người không có trình độ đại học có được làm người giám định không?

Trả lời:

Có. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi năm 2020): Trong trường hợp người không có trình độ đại học nhưng có kiến thức chuyên sâu và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn về lĩnh vực cần giám định thì có thể được lựa chọn làm người giám định tư pháp theo vụ việc.