1.Khái niệm tử hình là gì ?

>> Xem thêm: Quy định mới nhất về thủ tục thi hành án tử hình ?

Trong Luật Hình sự Việt Nam, tử hình là loại hình phạt đặc biệt và nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, tước đi quyền sống của người bị kết án và chỉ được áp dụng đối với người phạm tội có tính chất nguy hiểm đặc biệt cao cho xã hội. Hình phạt tử hình được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định. Tuy nhiên, với tư cách là một hình phạt đặc biệt, hình phạt tử hình có những đặc điểm riêng, đó là:

Thứ nhất, tử hình là một loại hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, nó tước đi quyền sống của người bị kết án, vì thế nó chỉ được quy định áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

Thứ hai, hình phạt tử hình có mục đích phòng ngừa tái phạm tội mới một cách triệt để từ phía người bị kết án. Hình phạt này không có mục đích cải tạo, giáo dục người bị kết án, như vậy nó tước bỏ cơ hội tái hòa nhập và phục thiện của họ.

Thứ ba, hình phạt tử hình đồng thời có khả năng đạt được nhiều hiệu quả cao trong phòng ngừa chung

Thứ tư, hình phạt tử hình có tính chất không thay đổi, nó tước đi khả năng khắc phục sai lầm trong hoạt động tư pháp.

Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về hình phạt tử hình như sau:

“Điều 40. Tử hình

1. Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

2. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

3. Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

b) Người đủ 75 tuổi trở lên;

c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

4. Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân.”

2. Thế nào là thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành

>> Xem thêm: Mức án đối với tội giết người ? Giết người khi nào bị tử hình?

  • Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành

– Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành được thực hiện:

+ Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và bản án phải được gửi ngay cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

+ Sau khi đã xem xét hồ sơ vụ án để quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Tòa án nhân dân tối cao phải chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao;

+ Trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;

+ Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước;

+ Bản án tử hình được thi hành nếu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm và người bị kết án không có đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước. Trường hợp bản án tử hình bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm Tòa án nhân dân tối cao quyết định không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình thì Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo ngay cho người bị kết án biết để họ làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình;

– Trường hợp người bị kết án có đơn xin ân giảm hình phạt tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm.

– Khi có căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm không ra quyết định thi hành án tử hình và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án.

3.Những điểm mới của quy định hình phạt tử hình

>> Xem thêm: Án tử hình thực hiện như thế nào ? Nên duy trì hay loại bỏ án tử hình ?

So với quy định về hình phạt tử hình tại Điều 35 Bộ luật hình sự cũ, Điều 40 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định những điểm mới cơ bản sau:

Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về hạn chế áp dụng hình phạt tử hình.

Theo đó, Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã xác định rõ tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

– Bộ luật đã bổ sung thêm các trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình, không thi hành án tử hình. Theo đó, hình phạt tử hình không áp dụng đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử. Đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì không thi hành án tử hình đối với họ. Quy định này nhằm góp phần hạn chế việc thi hành hình phạt tử hình trên thực tế và là thúc đẩy việc thu hồi tài sản bị tham nhũng trong các vụ án tham nhũng.

– Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình ở 08 tội danh gồm:

(1) cướp tài sản (Điều 168);

(2) sản xuất, buôn bán hàng cấm là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193);

(3) tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249);

(4) chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252);

(5) phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303);

(6) chống mệnh lệnh (Điều 394);

(7) đầu hàng địch (Điều 399);

(8) tội hoạt động phỉ (do Bộ luật Hình sự đã bỏ tội danh này).

Như vậy, Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn còn duy trì hình phạt tử hình đối với 18 tội danh trong tổng số 314 tội danh.

Thứ hai, không thi hành án tử hình trong một số trường hợp

Ngoài việc bổ sung quy định không áp dụng hình phạt tử hình và không thi hành án tử hình đối với người từ đủ 75 tuổi trở lên phạm tội, Bộ luật Bộ luật hình sự năm 2015 cũng bổ sung mới quy định: không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ¾ tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn(điểm c khoản 3 Điều 40).

Cơ sở của quy định này là: người phạm tội mang tính vụ lợi thì yếu tố khắc phục hậu quả, thu hồi lại tài sản chiếm đoạt cần được xem là một tình tiết đặc biệt khi thi hành án. Thực tế công tác thu hồi tài sản tham nhũng của nước ta hiện nay gặp rất nhiều khó khăn. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn nghèo, tài sản tham nhũng lại vô cùng lớn.

Vì vậy, quy định mới này vừa mang tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, vừa giúp cho công tác thu hồi tài sản được khả thi, giảm gánh nặng cho nền kinh tế Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, để bảo đảm sự công bằng, người phạm tội ngoài việc nộp lại tài sản tham ô, nhận hối lộ thì còn phải có đủ những điều kiện nhất định mang yếu tố tích cực như trên mới có thể được xem xét không thi hành án tử hình.

Thứ ba, quy định xét giảm án đối với người bị kết án tử hình được ân giảm xuống thành tù chung thân

Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung trường hợp giảm mức hình phạt đã tuyên: “Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm” (khoản 6 Điều 63) mà Bộ luật hình sự năm 1999 không quy định.

Thực tế thi hành án hình sự đối với phạm nhân tử hình được ân giảm thành tù chung thân, nếu không quy định họ được tiếp tục xét giảm án sẽ phát sinh một loại hình phạt mới: tù chung thân không giảm án, họ phải chấp hành án đến khi chết. Việc thi hành án vô thời hạn đối với các phạm nhân tạo gánh nặng cho Nhà nước khi phải bảo đảm các điều kiện để thi hành án phạt tù suốt đời đối với những người này trong trại giam.

Mặt khác, việc thi hành án suốt đời sẽ làm cho người bị kết án không có động lực để phấn đấu, cố gắng trở thành người có ích, nảy sinh tâm lý cực đoan, tiêu cực, có thể dẫn đến việc họ thực hiện các hành vi nguy hiểm khác như: gây rối, chống phá trại giam, tự vẫn hoặc bỏ trốn, đánh nhau…

Vì vậy, Bộ luật hình sự năm 2015 bổ sung quy định cho phép người bị kết án tử hình được ân giảm tiếp tục được xét giảm là hết sức đúng đắn, cần thiết. Tuy nhiên, điều kiện để xét giảm án của những người này chặt chẽ hơn so với người bị kết án tù chung thân khác, đó là: thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần thì vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm.

Quy định trên đây thể hiện sâu sắc tính nhân đạo, dân chủ, ưu tiên của Đảng và Nhà nước ta; chú ý đến những đặc điểm, sinh lý của người chưa thành niên và phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con nhỏ, ảnh hưởng của những đặc điểm đó đến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ thời điểm phạm tội.

4. Trình tự thủ tục xem xét bản án tử hình

>> Xem thêm: Mức án đối với tội giết người ? Giết người khi nào bị tử hình?

Thứ nhất, Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành án của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Theo Khoản 1 Điều 258 BLTTHS:

“Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và bản án phải được gửi ngay lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Trong thời hạn hai tháng kể từ ngày nhận được bản án và hồ sơ vụ án, Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm”

Như vậy, Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và bản án phải được gửi ngay lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để xem xét việc xét xử có được thực hiện đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không và có cần phải kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hay không hay nói cách khác, là để kiểm tra lại việc xét xử vụ án về cả khía cạnh nội dung và pháp luật.

Đối với bản án tử hình, bởi tính chất quan trọng đặc biệt nên thời hạn kháng nghị và tính chất kháng nghị có những điểm khác biệt so với thủ tục kháng nghị thông thường. Cụ thể, thứ nhất, trong thời hạn hai tháng kể từ ngày nhận được bản án và hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; thứ hai, việc ra quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hoặc ra quyết định không kháng nghị theo một trong những thủ tục đó của Chánh án tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là bắt buộc không tùy thuộc vào việc người bị kết án có viết đơn hay không viết đơn xin ân giảm gửi Chủ tịch nước. Trong trường hợp, người bị kết án đã viết đơn xin ân giảm gửi Chủ tịch nước, nhưng xét thấy việc xét xử không chính xác, Chánh án tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao vẫn có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Sau khi ra quyết định kháng nghị, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có nghĩa vụ phải báo cảo với Chủ tịch nước để Chủ tịch nước không tiến hành thủ tục xét đơn xin ân giảm của người bị kết án.

Đây là thủ tục bắt buộc không phụ thuộc vào ý chí của người bị kết án tử hình. Trong trường hợp Chánh án tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm bản án tử hình, thì vụ án được giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Thứ hai, Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành án của Chủ tịch nước.

Đoạn 3 Khoản 1 Điều 258 BLTTHS cũng nêu rõ: “Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước”

Về bản chất, đây là thủ tục xem xét lại chính sách của Nhà nước, đối chiếu với trường hợp phạm tội cụ thể để ra quyết định ân giảm hay không ân giảm. Theo đó, trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thì người bị kết án có quyền gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước. Trường hợp người bị kết án không viết đơn xin ân giảm, thì trại giam, trại tạm giam đang giam giữ người đó phải lập biên bản vào lý do của việc người bị kết án không viết đơn và gửi cho Tòa án nhân dân tối cao để lưu vào hồ sơ. Như vậy, việc xem xét này không phải là bắt buộc, tức là nó phụ thuộc vào ý chí của người bị kết án có muốn xin ân giảm hay không.

Theo đó, khi có đơn xin ân giảm của người bị kết án tử hình, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải trình lên Chủ tịch nước ý kiến của mình về đơn xin ân giảm của người đó. Tùy trường hợp cụ thể, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thể đề nghị với Chủ tịch nước ân giảm hay bác đơn xin ân giảm của người bị kết án tử hình.

Bộ luật tố tụng hình sự hay các văn bản có liên quan đến việc thi hành hình phạt tử hình không quy định cụ thể hồ sơ xin ân giảm gồm những gì. Nhưng theo Tiến sĩ Trần Quang Tiệp – Tổng cục an ninh, Bộ công an thì Hồ sơ trình Chủ tịch nước xét đơn ân giảm của người bị kết án bao gồm: đơn xin ân giảm của người bị kết án trong thời hạn quy định hoặc đơn quá thời hạn có lý do chính đáng; tờ trình của Chánh án tòa án nhân dân tối cao; tờ trình của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Chánh án tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Các bản án của Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm; đơn xin ân giảm cho người bị kết án của các tổ chức xã hội, nhân dân, chính quyền địa phương, biên bản khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người bị kết án gây ra; các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc xem xét đơn xin ân giảm của người bị kết án như: giấy chứng nhận gia đình có công với cách mạng, huân chương, huy chương…

Như vậy, trong trường hợp người bị kết án xin ân giảm hình phạt tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Chủ tịch nước ký bác đơn xin ân giảm. Đối với trường hợp không có đơn xin ân giảm hình phạt tử hình, thì bản án tử hình được thi hành nếu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

5. Bình luận về thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành

>> Xem thêm: Án tử hình thực hiện như thế nào ? Nên duy trì hay loại bỏ án tử hình ?

Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành được quy định tại Điều 367 BLTTHS. Theo đó, sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Chánh án TANDTC; bản án phải gửi ngay cho Viện trưởng VKSNDTC. Hai chủ thể này sẽ tiến hành xem xét, quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm trong thời hạn 2 tháng. Đồng thời, trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.

Về thủ tục gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước, chúng tôi nhận thấy có một số vướng mắc, bất cập như sau:

Thứ nhất, luật không quy định thời hạn xét đơn ân giảm của Chủ tịch nước trong trường hợp người bị kết án có đơn xin ân giảm. Theo đó, luật chỉ quy định thời hạn người bị kết án gửi đơn xin ân giảm cho Chủ tịch nước và Chủ tịch nước xem xét quyết định ân giảm hay bác đơn xin ân giảm. Đồng thời, thủ tục thi hành án còn có thời hạn tiến hành, nhưng luật không quy định thời hạn xem xét đơn xin ân giảm. Nếu hết thời hạn xem xét kháng nghị mà Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC không kháng nghị mà Chủ tịch nước chưa có quyết định về việc xem xét đơn xin ân giảm thì thủ tục thi hành án tử hình cũng không được thi hành.

Thứ hai, trường hợp bản án tử hình bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình thì TANDTC phải thông báo ngay cho người bị kết án để làm đơn xin ân giảm. Vậy, thông báo ngay được hiểu như thế nào? Một ngày, hai ngày hay ngay trong ngày có quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm? Như vậy, luật còn bỏ ngỏ quy định này dẫn đến khó khăn trong khi thi hành trên thực tế.

Đồng thời, quy định giữa điểm d và đ khoản 1 Điều 367 có sự mâu thuẫn với nhau. Điểm d quy định: “Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước”. Điều này có nghĩa, ngoài thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực, người bị kết án không còn quyền này. Nhưng điểm đ lại quy định: “Trường hợp… phải thông báo ngay cho người bị kết án biết để họ làm đơn xin ân giảm”. Trường hợp này, thông thường đã quá thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực nhưng người bị kết án vẫn có quyền gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.

Theo chúng tôi, cần phải thống nhất quy định về việc một số điều luật quy định thời hạn dùng từ “ngay”. Điều 147, 148 BLDS 2015 quy định:

“1. Khi thời hạn được xác định bằng phút, giờ thì thời hạn được bắt đầu từ thời điểm đã xác định.

2. Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định.” Và “Khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.”

Như vậy, từ “ngay” ở đây có thể được hiểu là chậm nhất là ngày tiếp theo của thời điểm có quyết định không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình nếu ngày tiếp theo là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.

Thứ ba, kết cấu của điều luật, nội dung các khoản trong điều luật còn chưa hợp lý, chưa chặt chẽ. Ngoài trường hợp mâu thuẫn giữa điểm d và điểm đ như đã phân tích ở trên; nội dung về điều kiện bản án tử hình được thi hành tại điểm đ và điểm e cũng chưa có sự phù hợp. Điểm đ quy định rằng: “Bản án tử hình được thi hành nếu Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm và người bị kết án không có đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước”. Như vậy, theo quy định này thì bản án tử hình được thi hành nếu đồng thời thỏa mãn điều kiện, một là không bị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; hai là không có đơn xin ân giảm. Tiếp theo điểm e điều này cũng quy định về trường hợp thi hành bản án tử hình: “Trường hợp người bị kết án có đơn xin ân giảm … thì bản án tử hình được thi hành sau khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm”. Về bản chất, hai quy định trên đã hợp lý, tuy nhiên, việc quy định hai trường hợp trong cùng một nội dung ở hai khoản khác nhau dễ khiến người đọc hiểu đây là hai trường hợp riêng và trường hợp thứ 2 dễ bị hiểu rằng chỉ cần Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm là có thể thi hành ngay bản án tử hình.

Thứ tư, điểm c khoản 1 Điều 367 BLTTHS 2015 quy định: “Trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm”. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 400 BLTTHS 2015 thì Chánh án TANDTC không phải là chủ thể có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Nên khi xác định có căn cứ để kháng nghị tái thẩm thì Chánh án TANDTC phải đề nghị Viện trưởng VKSNDTC kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Do đó, cần phải sửa đổi điểm c khoản 1 Điều 367 theo hướng thống nhất với Điều 400.

Thứ năm, thời hạn để Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC xem xét quyết định kháng nghị hay không kháng nghị là 2 tháng. Trong thời gian đó, nếu đã ra quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị thì các chủ thể này có quyền thay đổi hay không? Hiện nay, luật chưa có quy định về vấn đề này nhưng trên thực tế đã có trường hợp rút quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm? Do đó, để tạo tính pháp lý cho hoạt động này, cần bổ sung quy định có liên quan.

Do đó, đề xuất sửa đổi quy định tại Điều 367 BLTTHS như sau:

Điều 367. Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành

1. Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành được thực hiện:

a) Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và bản án phải được gửi ngay cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

b) Sau khi đã xem xét hồ sơ vụ án để quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Tòa án nhân dân tối cao phải chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao;

c) Trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Nếu có căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thì Chánh án TANDTC phải có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

d) Quyết định kháng nghị, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có thể thay đổi bằng cách quyết định rút lại quyết định đã ban hành và ban hành quyết định thay thế.

e) Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc ngày nhận được thông báo về việc không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước. Trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày nhận được đơn xin ân giảm, Chủ tịch nước phải ra quyết định ân giảm hoặc quyết định bác đơn xin ân giảm án tử hình.

2. Bản án tử hình được thi hành trong các trường hợp sau đây:

a) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm và người bị kết án không có đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước hoặc Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm án tử hình.

b) Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, giữ nguyên bản án tử hình và người bị kết án không có đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước hoặc Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm án tử hình.

3. Khi có căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm không ra quyết định thi hành án tử hình và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án”.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật hình sự, luật tố tụng hình sự - Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê