1. Thực trạng thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, các doanh nghiệp được thành lập dễ dàng hơn vì thủ tục hành chính đã càng ngày được tối giản lại. Nếu như ở trước đây, thủ tục hành chính thành lập doanh nghiệp rườm rà phức tạp và mất thời gian như việc khách hàng nộp bộ hồ sơ thành lập doanh nghiệp bản giấy tới trực tiếp Sở Kế hoạch và Đầu tư; Chuyên viên tiến hành xử lý hồ sơ, sau thời gian xử lý hồ sơ là từ 03 đến 05 ngày làm việc khách hàng sẽ trực tiếp tới Sở Kế hoạch và Đầu tư để nhận thông báo. Đối với hồ sơ sai sót, khách hàng sẽ phải sửa lại, hồ sơ hợp lệ sẽ được cấp đăng ký kinh doanh; sau khi sửa hồ sơ, khách hàng trực tiếp mang hồ sơ tới Sở Kế hoạch và Đầu tư để nộp lại, cho đến khi hồ sơ không còn sai sót sẽ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ...

Do những bất cập trong quy định thành lập doanh nghiệp của pháp luật cú nên thay vì việc phải tốn thời gian nhiều lần đi lại lên các Cơ quan nhà nước thì hiện nay khách hàng chỉ cần nộp hồ sơ online để thực hiện thủ tục thành lập công ty online. Khi hồ sơ qua mạng hợp lệ thì khách hàng mới phải nộp bộ hồ sơ bản giấy trực tiếp tới Sở Kế hoạch và Đầu tư. Trường hợp hồ sơ của doanh nghiệp sai sót thì doanh nghiệp sẽ nhận được thông báo nhanh nhất để có thể sửa đổi hồ sơ nhanh chóng nhất có thể.

Thực trạng đăng ký doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam có những ưu điểm và hạn chế như sau:

Thứ nhất, những ưu điểm của thành lập doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam

Trong 6 tháng đầu năm 2020, theo báo cáo trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp thì đã thống kê được là có hơn 60.000 doanh nghiệp được thành lập mới trên cả nước, hơn 17.000 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau tạm ngừng, và hơn 7.000 doanh nghiệp giải thể. Có thể thấy, một thực tế hiện nay là doanh nghiệp được thành lập ngày một nhiều và số lượng doanh nghiệp quay trở lại là tương đối đáng kể.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp được thành lập cũng không có sự phân bố đồng đều mà thành lập tập trung ở các thành phố lớn và các khu công nghiệp như tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, …

Việc các công ty được thành lập với số lượng lớn mang lại nhiều lợi ích cho kinh tế nước nhà như:

- Thúc đẩy tỷ lệ tăng trưởng GDP của cả nước;

- Tạo điều kiện làm việc, tạo công ăn, việc làm cho người lao động trong và ngoài nước;

- Giúp thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam;

- Đồng thời, thành lập doanh nghiệp sẽ tạo đà cho kinh tế nước nhà phát triển như xuất nhập khẩu, dịch vụ, thương mại hàng hóa, ...

Thứ hai, những bất cập của thực trạng thành lập doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam

Bên cạnh những ưu điểm của việc thành lập doanh nghiệp mang lại vẫn còn đó những khuyết điểm lớn cần sớm giải quyết như sau:

- Việc thành lập doanh nghiệp được tiến hành ồ ạt khiến cho công tác quản lý và hỗ trợ doanh nghiệp của cơ quan Nhà nước gặp nhiều khó khăn;

- Nhiều công ty, doanh nghiệp thành lập tự phát mà chưa đăng ký với cơ quan chức năng làm khó dễ cho việc giám sát hoạt động;

- Các công ty, doanh nghiệp thành lập chỉ tập trung ở một hoặc một số tỉnh thành, khu vực sẽ dễ tạo nên sự phân hóa nặng nề về kinh tế giữa các tỉnh, các khu vực trong nước ta;

- Hiện tượng thành lập doanh nghiệp ma, doanh nghiệp ảo diễn ra còn rất nhiều và vẫn chưa được Nhà nước quản lý triệt để, …

- Nhiều công ty cung cấp dịch vụ thành lập công ty với quảng cáo là giá rẻ, miễn phí nhưng thực chất không phải vậy. Ngoài những quảng cáo như thành lập doanh nghiệp miễn phí thì thành lập doanh nghiệp giá cực rẻ hoặc giá rẻ cũng là những cách thức mà các công ty cung cấp dịch vụ thường sử dụng để lôi kéo khách hàng. Song giá thành rẻ lại tỉ lệ nghịch với chất lượng dịch vụ. Khách hàng sẽ rất lâu mới có thể nhận được kết quả đăng ký kinh doanh hoặc sẽ mất thêm rất nhiều phụ phí khác với các chi phí mà 2 bên ký kết hợp đồng dịch vụ. Chỉ vì sử dụng các dịch vụ giá rẻ đó mà không ít khách hàng gặp cảnh “tiền mất, tật mang”.

 

2. Thực trạng triển khai Luật Doanh nghiệp trong đời sống kinh tế - xã hội hiện nay

Luật Doanh nghiệp năm 2020 được Quốc hội thông qua và ban hành với mục đích là khắc phục, hạn chế những bất cập và sự chưa hoàn thiện của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Ví dụ, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì không còn yêu cầu các doanh nghiệp, các nhà đầu tư phải chứng minh việc đã góp đủ số vốn điều lệ đã đăng ký khi đăng ký kinh doanh, tuy nhiên điều đó không đồng nghĩa với việc các nhà đầu tư có thể góp vốn vào bất kỳ thời điểm nào.

- Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 hiện hành thì khái niệm vốn điều lệ được hiểu là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần. Vốn điều lệ là cơ sở để xác định tỷ lệ phần vốn góp hay sở hữu cổ phần của thành viên, cổ đông trong công ty. Thông qua đó làm cơ sở cho việc phân chia quyền, lợi ích và nghĩa vụ giữa các thành viên, cổ đông trong công ty. Thành viên, cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Theo đó, Luật Doanh nghiệp năm 2020 giữ nguyên thời hạn tối đa 90 ngày kể từ lúc công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (áp dụng cho đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp) để thành viên, cổ đông góp vốn thực hiện nghĩa vụ.

Tuy nhiên, theo khảo sát ý kiến của các doanh nghiệp thì thời hạn 90 ngày là quá ngắn mặc dù Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã được đổi mới khi quy định đối với vốn góp là tài sản không tính thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản vào thời hạn này. Sẽ rất khó đáp ứng được thời gian đối với doanh nghiệp làm ăn chân chính, có vốn điều lệ đăng ký lớn. Tuy nhiên, việc quy định này lại dường như trở thành điều kiện thuận lợi để cho các nhà đầu tư “lách” theo hướng tiêu cực. 

- Liên quan đến việc góp vốn, riêng đối với loại hình Công ty TNHH một thành viên thì tại khoản 3 Điều 75 Luật Doanh nghiệp năm 2020 có quy định: “Đối với trường hợp thành viên không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn quy định 90 ngày, kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì chủ sở hữu công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị số vốn thực góp. Trường hợp nếu hết 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn điều lệ, nếu chủ sở hữu không đăng ký thay đổi vốn điều lệ thì phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ”. Quy định này được đưa ra là nhằm để bảo đảm nguyên tắc trung thực khi kê khai, góp vốn điều lệ của người tham gia góp vốn và ràng buộc trách nhiệm của chủ sở hữu công ty khi mà luật không còn quy định về hậu kiểm về việc đăng ký vốn điều lệ.

Tuy nhiên, trong thực tế, khi chọn loại hình thành lập doanh nghiệp là Công ty TNHH một thành viên thì nếu vì lý do nào đó bất khả kháng, trong thời hạn 30 ngày, chủ sở hữu công ty không đăng ký thay đổi vốn điều lệ thì phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ hoặc nếu công ty làm ăn bị thua lỗ thì chủ sở hữu còn phải chịu trách nhiệm toàn bộ tài sản của gia đình. Trong khi các loại hình khác như Công ty TNHH hai thành viên trở lên thì nếu xảy ra rủi ro chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn điều lệ. 

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đẩy mạnh việc cải cách tư pháp và nỗ lực trong cắt giảm thủ tục hành chính, cắt giảm các điều kiện kinh doanh bất hợp lý, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh trong những năm qua kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thu được kết quả rất đáng ghi nhận. Qua đó, những rào cản trong hoạt động đầu tư, kinh doanh đã được loại bỏ; những yếu tố, vấn đề xã hội, quản lý, quản trị liên quan đến chất lượng môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia đã được chú trọng nhiều hơn đã góp phần tạo nên niềm tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. 

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.