1. Cơ sở pháp lý
- Bộ luật dân sự năm 2015
- Bộ luật Hình sự năm l2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
- Luật phòng, chống rửa tiền năm 2012
- Nghị định 88/2019/NĐ-CP
2. Tiền ảo là gì?
Tiền ảo không phải là “tiền điện tử”. Tiền điện tử là giá trị tiền thật được lưu giữ dưới dạng điện tử để sử dụng làm phương tiện thanh toán, gồm hai hình thức là thẻ ngân hàng trả trước và ví điện tử.
3. Đặc điểm của tiền ảo là gì? Pháp luật Việt Nam về tiền ảo?
Còn tiền ảo (virtual currency), mà đại diện phổ biến nhất là Bitcoin, tuy chưa được pháp luật chính thức điều chỉnh, nhưng có thể rút ra một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, nó không phải là công nghệ, mà là một sản phẩm ứng dụng của công nghệ Blockchain;
Thứ hai, nó không phải là đồng tiền, cũng không phải là tiền điện tử chính thức, mà là tiền kỹ thuật số và có một số đặc điểm của đồng tiền;
Thứ ba, nó không phải là loại tài sản vật, tiền hay giấy tờ có giá, mà là một loại quyền tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012;
Thứ tư, nó không bị pháp luật cấm việc tạo ra và giao dịch nói chung như đầu tư, kinh doanh, trao đổi, tặng cho, mà chỉ cấm việc phát hành, cung ứng và sử dụng tiền ảo làm phương tiện thanh toán. (Điều 26.6.d Nghị định 88/2019/NĐ-CP và Điều 206.1.h Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017).
Tuy nhiên, rất khó có thể phân biệt sự khác nhau giữa các hành vi hợp pháp là trao đổi giữa các loại tiền ảo với nhau; trao đổi tiền ảo với các loại hàng hoá, tài sản khác; tạo ra, cung cấp và sử dụng tiền ảo để trao đổi với các hàng hoá, tài sản khác; với các hành vi bất hợp pháp là phát hành, cung ứng và sử dụng tiền ảo làm phương tiện thanh toán hay mua bán hàng hoá, tài sản bằng tiền ảo.
Năm 2018, Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước “phối hợp với các bộ, ngành liên quan đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng hệ thống ngân hàng, hệ thống thanh toán để mua bán, trao đổi tiền ảo, sử dụng tiền ảo làm phương tiện thanh toán trái với quy định pháp luật” (Nghị định 88/2019/NĐ-CP)
Trên cơ sở đó, Ngân hàng Nhà nưóc đã có chỉ thị, trong đó yêu cầu: “Các tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không được cung ứng dịch vụ thanh toán, thực hiện giao dịch thẻ, cấp tín dụng qua thẻ, hỗ trợ xử lý, thanh toán, chuyển tiền, bù trừ và quyết toán, chuyển đổi tiền tệ, thực hiện giao dịch thanh toán, chuyển tiền qua biên giới liên quan tới giao dịch tiền ảo cho khách hàng do có thể phát sinh những rủi ro về rửa tiền, tài trợ khủng bố, gian lận, trốh thuế. Như vậy, chỉ thị này không chỉ ngăn chặn tiền ảo tham gia vào chức năng thanh toán, mà còn ngăn chặn các tổ chức tín dụng và tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tham gia vào mọi giao dịch khác liên quan đến tiền ảo.
Báo cáo kết quả nghiên cứu Đề tài khoa học cấp Bộ “Các khía cạnh pháp lý của tiền ảo: Thực tiễn các nước và một số kinh nghiệm cho Việt Nam đã nhận định: “pháp luật Việt Nam chưa có bất cứ ghi nhận chính thức nào thể hiện sự công nhận tiền ảo là một loại tài sản. Do đó, ở Việt Nam hiện nay, tiền ảo không phải là tài sản”. Đồng thời, Báo cáo cũng kiến nghị pháp luật cần ghi nhận tiền ảo là một loại tài sản khác (với tinh thần là loại tài sản thứ 5 ngoài 4 loại tài sản hiện hành theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản).
Thực ra, tiền ảo là một sự tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào sự định danh cụ thể của pháp luật thì nó cũng đương nhiên là một loại quyền tài sản. Chỉ có vấn đề là, tiền ảo có chính thức là một loại hàng hóa hay không theo quy định của pháp luật thương mại, hay đi xa hơn nữa có phải là một phương tiện thanh toán hay không theo quy định của pháp luật ngân hàng, thì mới cần sự thừa nhận của pháp luật. Không cần phải được bộ nào hay văn bản quy phạm pháp luật nào xác định thì tiền ảo mới là tài sản.
Năm 2017, Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre đã phán quyết trong một bản án, không công nhân việc thu thuế từ hoạt động kinh doanh tiền ảo, vì cho rằng tiền ảo không phải là hàng hoá.
Trong khi trước đó, Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012 đã giải thích “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, có thể tồn tại dưới hình thức vật chất hoặc phi vật chất; động sản hoặc bất động sản; hữu hình hoặc vô hình; các chứng từ hoặc công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản đó” (khoản 2 Điều 4 Luật phòng, chống rửa tiền năm 2012).
Vào các năm 2014 và 2017, Ngân hàng Nhà nước đã giải thích: Tiền ảo là một loại tài sản, hàng hóa và không phải là một phương tiện thanh toán. Nếu phát hành, cung ứng, sử dụng tiền ảo làm phương tiện thanh toán sẽ vi phạm pháp luật hành chính và hình sự.
Năm 2016, Bộ Tài chính đã xác định tiền ảo là quyền tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và là hàng hoá theo quy đinh của Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi, bổ sung nám 2017). Vì vậy, việc mua, bán tiền ảo là hoạt động mua, bán hàng hóa và được xếp vào loại hình hoạt động kinh doanh thương mại phải chịu thuế theo quy định của các luật thuế liên quan.
Năm 2018, Bộ Công Thương cũng đã gián tiếp thừa nhận tiền ảo là một loại tài sản.
Theo thông báo từ Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày 1/1/2018, việc phát hành, cung ứng, sử dụng Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác làm phương tiện thanh toán là không hợp pháp và bị cấm tại Việt Nam.
Theo đó, kể từ ngày 1/1/2018, hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp (bao gồm cả Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác) có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuy nhiên, quy định không đề cập tới việc mua/bán Bitcoin trên các sàn giao dịch quốc tế, cũng như việc sở hữu tài sản Bitcoin của mỗi cá nhân, tổ chức.
Tính hợp pháp của Bitcoin vẫn còn vấn đề gây tranh cãi trên toàn cầu. Hiện tại đã có 107/251 nước chấp nhận Bitcoin. Việt Nam nằm trong danh sách những nước xem Bitcoin là bất hợp pháp.
Ở Việt Nam, khái niệm về tài sản ảo, tiền điện tử chưa được nêu trong bất cứ văn bản quy phạm pháp luật, không do bất cứ ngân hàng nhà nước nào phát hành và được lưu trữ bằng phương thức điện tử.
Không chỉ riêng Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới đang gặp các vấn đề pháp lý về quản lý tài sản ảo, tiền ảo. Đây là vấn đề rất mới nên các chính phủ chưa có khung pháp lý quá sớm mà chờ đợi thêm.
4. Vì sao tiền ảo chưa được công nhận ở Việt Nam?
Sau đây là các lý do chi tiết vì sao tiền ảo cũng không được pháp luật Việt Nam thừa nhận:
+ Các giao dịch thương mại hay dân sự thanh toán bằng Bitcoin mang tính chất ẩn danh, chủ thể của quan hệ không xác định được danh tính và chủ thể của các bên quan hệ không biết rõ về nhau, mà chỉ thông qua mạng Internet.
+ Thuộc tính của Bitcoin là tiền ảo được lưu giữ dưới dạng kỹ thuật số nên có nhiều nguy cơ bị xâm phạm, bị chiếm đoạt, bị thay đổi dữ liệu hoặc bị ngừng giao dịch.
+ Không có cơ quan giám sát, không có cơ quan trung gian, quan hệ sử dụng Bitcoin tự do, tự phát theo một quy ước giữa các bên chủ thể tham gia giao dịch không công khai. Giá trị Bitcoin biến động mạnh theo thời gian hoạt động ngắn nên ẩn chứa nhiều nguy cơ bong bóng và những rủi ro tiềm ẩn trong giao dịch, bị thiệt hại về tài sản mà không được bảo vệ bằng các cơ chế pháp lý. Ngược lại, Bitcoin không bị chi phối và kiểm soát giao dịch bởi một cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nào, nên chủ sở hữu Bitcoin phải tự chịu mọi rủi ro.
5. Phân biệt tiền ảo, tiền kỹ thuật số và tiền mã hóa
| Tiêu chí | Tiền ảo | Tiền kỹ thuật số | Tiền mã hóa |
| Bản chất | - Tiền ảo là một dạng tiền kỹ thuật số không được kiểm soát, phát hành bởi chính phủ. - Tiền ảo được tạo ra và quản lý bởi các nhà phát triển (developer). - Tiền ảo được sử dụng, chấp nhận làm phương tiện thanh toán và có thể chuyển nhượng, lưu trữ hoặc giao dịch điện tử giữa các thành viên trong một cộng đồng ảo cụ thể. - Tiền ảo chỉ có sẵn ở dạng điện tử và không ở dạng vật lý. Nó được lưu trữ và giao dịch chỉ thông qua phần mềm được chỉ định như ứng dụng di động, máy tính hoặc qua ví kỹ thuật số chuyên dụng - Tiền ảo được coi là một tập hợp con của nhóm tiền kỹ thuật số, bao gồm cả tiền điện tử. | - Tiền kỹ thuật số (digital money) có nghĩa giống như tiền điện tử (electronic currency), là một đơn vị tiền tệ ở dạng kỹ thuật số, không phải ở dạng vật lý như tiền xu hay tiền giấy. - Tiền kỹ thuật số có khả năng sử dụng như tiền vật lý nhưng kèm theo các đặc tính của kỹ thuật số là giao dịch tức thì và chuyển tiền xuyên biên giới. | - Tiền mã hóa (Cryptocurrency) là một tài sản kỹ thuật số, có chức năng như một phương tiện trao đổi giá trị trong một hệ thống kinh tế ngang hàng - Tiền mã hóa sử dụng mật mã học để xác thực và bảo mật các giao dịch, kiểm soát việc tạo ra các đồng tiền mới. - Tiền mã hóa được xếp vào nhóm phụ của tiền kỹ thuật số và cũng được xếp vào nhóm phụ của tiền ảo. |
| Đặc điểm | - Không thể cầm nắm được, không có hình hài vật lý cụ thể. - Được sử dụng trên môi trường điện tử. - Được tạo ra không giới hạn - Được các công ty, tập đoàn hoặc tổ chức tạo ra mà không cần xin phép ai. Nó chỉ có giá trị trong cộng đồng giới hạn của các đơn vị này. - Không có giá trị thực, không được bảo lãnh bởi Tiền mặt, vàng, và các tài sản có giá. - Thường sử dụng để thanh toán, mua đồ trong các trò chơi điện tử, mỗi loại trò chơi có một loại tiền khác nhau. - Tính thanh khoản thấp không thể dùng để trao đổi cho nhau hoặc đem ra ngoài môi trường điện tử để mua các sản phẩm dịch vụ khác được | - Tiền kỹ thuật số là superset tổng thể bao gồm tiền ảo, tiền mã hóa và tiền điện tử. Các loại tiền điện tử như Bitcoin và Ethereum được coi là một phần của nhóm tiền ảo. - Tài khoản tiền kỹ thuật số có thể được lưu trữ điện tử trên một chiếc thẻ hoặc thiết bị khác. - Tiền kỹ thuật số có thể quản lý tập trung, có đơn vị trung tâm kiểm soát mọi hoạt động phân phối. Đồng thời cũng có thể quản lý phi tập trung, nguồn cung tiền có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau. | - Không bị lạm phát, không bị làm giả. - Không bị kiểm soát bởi chính phủ - Có tính ẩn danh: Khi thực hiện giao dịch Cryptocurrency đều mang tính ẩn danh - Nhanh chóng và toàn cầu: Tất cả các giao dịch được thực hiện gần như là ngay lập tức, chỉ trong vài phút sẽ được xử lý. Giao dịch được thực hiện trên mạng lưới toàn cầu nên bạn có thể giao dịch bất cứ ở đâu và bất cứ khi nào. - Bảo mật: Các Cryptocurrency được bảo mật rất chặt chẽ và an toàn. - Tiền mã hóa chuyển tiền trực tiếp giữa hai bên trong giao dịch mà không cần trung gian. Chuyển tiền được thực hiện với phí xử lý tối thiểu, cho phép người dùng tránh các khoản phí cao. |
| Phân loại | Chia thành 3 loại chính: - Tiền ảo đóng: Tiền ảo đóng hay tiền tệ viễn tưởng là đơn vị tiền dùng trong các thế giới viễn tưởng như trong game trực tuyến. Tiền ảo đóng không có liên hệ với nền kinh tế thực sự. - Tiền ảo dịch chuyển một chiều: Các dạng tiền ảo có thể mua bằng tiền thật nhưng không thể chuyển đổi theo hướng ngược lại. Ví dụ như các coupon, điểm tích lũy trong thẻ, tiền tài khoản Amazon, Facebook. - Tiền ảo phi tập trung: Tiền ảo phi tập trung là các đơn vị tiền được tạo ra dựa trên nền tảng không tập trung như Ethereum và Bitcoin. | Chia làm 2 loại: - Tiền kỹ thuật số tập trung: Các hệ thống như Paypal, Webmoney, Payoneer là các đơn vị quản lý tiền kỹ thuật số tập trung. Các tài khoản Apple Pay, Google Wallet cũng là tiền kỹ thuật số tập trung. - Tiền kỹ thuật số phi tập trung: Bitcoin, Ethereum, Bitcoin Cash, Ripple và những loại tiền ảo khác cũng là tiền kỹ thuật số. | - Bitcoin là đồng tiền mã hóa phi tập trung đầu tiên trên thế giới được tạo ra năm 2009. - Có nhiều đồng tiền mã hóa khác như Ethereum, Ripple, Litecoin, Stellar, Bitcoin Cash…, được gọi chung là Altcoin. |
Trên đây là phân tích của chúng tôi về các vấn đề pháp lý về tiền ảo và phân loại tiền ảo.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)