1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Giới hạn chính đáng đối với các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam " do TS. Nguyễn Minh Tuấn làm chủ biên.

Nhóm tác giả: PGS.TS. Vũ Công Giao, TS. Nguyễn Minh Tuấn, TS. Phạm Duyên Thảo, TS. Mai Văn Thắng, ThS NCS. Bùi Tiến Đạt, ThS NCS. Đỗ Giang Nam, SV chất lượng cao Đặng Duy Anh.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Giới hạn chính đáng đối với các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

Giới hạn chính đáng đối với các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

Tác giả: TS. Nguyễn Minh Tuấn làm chủ biên

Nhà xuất bản Hồng Đức

3. Tổng quan nội dung sách

Vấn đề giới hạn các quyền con người, quyền công dân quy định trong Hiến pháp đến đâu, bằng cách thức nào luôn là vấn đề phức tạp và gây nhiều tranh cãi.

Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam được Quốc hội Khóa XIII thông qua ngày 28/11/2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014. Lần đầu tiên vấn đề "giới hạn quyền con người, quyền công dân" được đặt ra ở Điều 14 Khoản 2, Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013): "Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng".

Hiến pháp sinh ra có chức năng để giới hạn quyền lực nhà nước và ràng buộc trách nhiệm của nhà nước. Do vậy nhóm tác giả cho rằng: Một bản Hiến pháp tốt không thể trao quyền quá rộng hoặc bỏ mặc cho công quyền tự đo lường và quyết định việc giới hạn các quyền cơ bản của công dân một cách tùy tiện. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là những quyền cơ bản nào cần đặt ra những giới hạn hiến định (tức những giới hạn ngay trong Hiến pháp) và phạm vi đến đâu, cũng như những quyền nào cần thiết giới hạn bởi một luật của Quốc hội/ Nghị viện? Nếu cần một luật thì luật đó phải được xây dựng trên những nguyên tắc, tiêu chí nào để không làm mất đi bản chất của những quyền cơ bản hiến định này

Xuất phát từ những lý do, những trăn trở kể trên, chúng tôi cho rằng việc lựa chọn và tiến hành đề biên soạn cuốn sách chuyên khảo "Giới hạn chính đáng đối với các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” là việc làm rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.

Vì đây là vấn đề rất mới và có ý nghĩa ở Việt Nam, do vậy nhóm tác giả xác định mục đích quan trọng nhất của của cuốn sách sách này là thông qua việc khảo cứu, so sánh kinh nghiệm thế giới đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam liên quan đến việc giới hạn quyền con người, quyền công dân.

Để làm sáng tỏ mục đích nêu trên, nhóm tác giả nghiên cứu vấn đề giới hạn và cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản trong sự so sánh, đối chiếu Hiến pháp Việt Nam với các văn bản pháp luật quốc tế quan trọng và các bản Hiến pháp tiêu biểu ở các khu vực điển hình trên thế giới như Hiến pháp của Mỹ, CHLB Đức, Nga và một số nước Châu Á, qua đó đưa ra những cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về giới hạn quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam.

Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Triết lý và các điều kiện giới hạn

1. Lịch sử, triết lý của việc giới hạn quyền

2. Khái niệm giới hạn đối với quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế

3. Các điều kiện giới hạn đối với quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế

Chương 2: Giới hạn quyền con người, quyền công dân trong pháp luật một số nước trên thế giới và Việt Nam

1. Cơ chế giới hạn quyền con người, quyền công dân trong pháp luật của một số nước trên thế giới

2. Giới hạn quyền con người, quyền công dân trong pháp luật Việt Nam

- Quan điểm, chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước liên quan đến giới hạn quyền con người

- Thực trạng giới hạn quyền con người trong các quy định pháp luật Việt Nam

- Nhận xét khái quát thực trạng giới hạn quyền con người trong các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam liên quan đến việc giới hạn quyền con người, quyền công dân

1. Bài học kinh nghiệm về việc giới hạn quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia trên thế giới

2. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt nam về giới hạn quyền con người, quyền công dân

- Phương hướng hoàn thiện cơ chế giới hạn quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp

- Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giới hạn quyền con người, quyền công dân

4. Đánh giá bạn đọc

Giới hạn quyền con người, quyền công dân là một vấn đề nhạy cảm và phức tạp ở bất kỳ quốc gia nào. Dù là chính đáng vẫn sẽ là vấn đề nhạy cảm có thể trở thành nguyên nhân của những bất ổn về xã hội, chính trị. Lập pháp và hành pháp như thế nào để thực hiện hạn chế chính đáng quyền con người, quyền công dân không trở thành nguồn cơn của những bất ổn cần được nghiên cứu và tìm hiểu chuyên sâu. Do đó, cuốn sách "Giới hạn chính đáng đối với các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam" thực sự là một tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn đọc quan tâm tới quyền con người, quyền công dân nói chung và vấn đề giới hạn chính đáng quyền con người, quyền công dân nói riêng.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giới hạn chính đáng đối với các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây khái quát sự thể hiện nguyên tắc giới hạn quyền trong Hiến pháp năm 2013 để bạn đọc tham khảo thêm:

Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, một nguyên tắc chung về giới hạn quyền với tính cách là tư tưởng chủ đạo, định hướng cho việc xác định giới hạn đối với tất cả các quyền (cần thiết và có thể) đã được quy định tại  khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng”.

Nguyên tắc giới hạn quyền được quy định như vậy, cho dù đã hoàn toàn phù hợp với luật nhân quyền quốc tế hay chưa thì đây vẫn được coi là điểm sáng rực rỡ nhất, thể hiện sự tiến bộ, phát triển vượt bậc trong chế định quyền cơ bản của Hiến pháp năm 2013.

Hiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc về giới hạn quyền trước hết thể hiện quan niệm của các nhà lập hiến Việt Nam về bản chất của quyền con người, quyền công dân. Theo đó, quyền con người tuy mang tính tự nhiên, vốn có và không phải có ai ban phát cho chủ thể các quyền đó nhưng cũng không phải mọi quyền đều có ý nghĩa tuyệt đối và không phải trong mọi trường hợp đều có thể thực hiện (hưởng thụ) quyền một cách tuyệt đối. Bởi lẽ, con người hoặc công dân sinh ra và sống, hưởng thụ các quyền trong một cộng đồng xã hội. Các quyền tuy là của cá nhân mỗi con người hoặc công dân nhưng không thể đối lập, loại trừ, hay xâm hại cho quyền của cá nhân khác hay những lợi ích của cộng đồng. Nói cách khác, vì lợi ích chung, trong những trường hợp cần thiết, quyền con người, quyền công dân có thể bị giới hạn. Với tính cách là luật cơ bản, Hiến pháp phải vạch rõ, hiến định nguyên tắc của việc giới hạn này. Việc quy định một nguyên tắc cho việc giới hạn quyền trong Hiến pháp mang hai ý nghĩa sau:

(1) xác lập tiêu chí để sự giới hạn quyền được chính đáng, tránh sự tuỳ tiện trong hoạt động của bộ máy nhà nước làm triệt tiêu, vô hiệu hoá hay giảm ý nghĩa của quyền;

(2) bảo đảm tính hiện thực của quyền vì sự giới hạn đối với quyền con người, quyền công dân là một giải pháp được lựa chọn cuối cùng khi không có giải pháp nào khác phù hợp hơn.

Trên tinh thần đó, suy cho cùng, nguyên tắc giới hạn quyền cũng nhằm mục đích tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Vì thế, liền ngay trước khi ghi nhận nguyên tắc giới hạn quyền, khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã long trọng tuyên bố: “Ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và luật”.

Nguyên tắc giới hạn quyền trong Hiến pháp năm 2013 không chỉ là nguyên tắc cho chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp (Chương II) mà còn là nguyên tắc cho cả bản Hiến pháp và cũng là nguyên tắc chung cho cả hệ thống pháp luật.

Có thể khẳng định nguyên tắc giới hạn quyền không tồn tại một cách biệt lập mà trong mối liên hệ thống nhất với các nguyên tắc khác được quy định tại Điều 15: Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân (khoản 1); Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác (khoản 2); Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội (khoản 3); Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (khoản 4). Ở chừng mực nhất định và từng khía cạnh cụ thể, các nguyên tắc trên cũng thể hiện tư tưởng giới hạn quyền. Tuy nhiên, những nguyên tắc này hướng đến điều chỉnh hành vi của các chủ thể có quyền, còn nguyên tắc giới hạn quyền lại hướng đến chủ thể có nghĩa vụ, trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền, chính là Nhà nước.

Trong việc ghi nhận các quyền cụ thể, Hiến pháp năm 2013 cũng kế thừa, phát triển cách thức ghi nhận quyền và kèm theo đó là giới hạn của quyền trong các bản Hiến pháp trước. Bên cạnh những quyền đã từng được ghi nhận, Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận thêm một số quyền mới. Nhìn chung, cách thức thể hiện tư tưởng giới hạn các quyền cụ thể như sau:

- Quyền sống: Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật (Điều 19). Đây là quyền mới được ghi nhận lần đầu trong Hiến pháp Việt Nam, phù hợp với luật nhân quyền quốc tế. Tuy là quyền có ý nghĩa tuyệt đối nhưng tính có giới hạn của quyền sống được thể hiện ở chỗ không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật. Trong điều kiện Việt Nam còn phải duy trì án tử hình đối với một số tội phạm đặc biệt nguy hiểm, luật xác định rõ các loại tội phạm này. Việc thi hành án tử hình cũng được luật quy định hết sức nghiêm ngặt, chặt chẽ. Tuy nhiên, trên tinh thần tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, luật hình sự Việt Nam thời gian gần đây đã thu hẹp số lượng các tội danh có khung hình phạt với mức cao nhất là tử hình. Luật hình sự cũng quy định không áp dụng hình phạt tử hình, không thi hành án tử hình đối với người bị kết án đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội hoặc đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử, phụ nữ đang có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

................