1. Khái niệm và vai trò Trưởng thôn, Trưởng ấp, Tổ trưởng tổ dân phố hiện nay
Dựa trên Điều 10 Thông tư 04/2012/TT-BNV (sửa đổi bởi khoản 8 Điều 1 Thông tư 14/2018/TT-BNV), nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ trưởng tổ dân phố được quy định cụ thể như sau:
Nhiệm vụ của Tổ trưởng tổ dân phố bao gồm: a) Triệu tập và chủ trì các hội nghị thôn, tổ dân phố, đồng thời tổ chức thực hiện các công việc đã được nhân dân bàn bạc và quyết định, bảo đảm hoạt động của thôn, tổ dân phố tuân thủ quy định tại Điều 5 của Thông tư này. b) Vận động và tổ chức nhân dân thực hiện tốt dân chủ cơ sở cũng như các hương ước, quy ước đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. c) Tập hợp và phản ánh các kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của nhân dân tới chính quyền cấp xã, đồng thời báo cáo kịp thời về các hành vi vi phạm pháp luật trong thôn, tổ dân phố. d) Lập biên bản về kết quả các công việc được nhân dân bàn bạc và quyết định, bao gồm các công việc thuộc phạm vi cấp xã, sau đó báo cáo kết quả cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. e) Phối hợp với Ban công tác Mặt trận và các tổ chức chính trị-xã hội để vận động nhân dân tham gia vào các phong trào và cuộc vận động do các tổ chức này phát động. f) Báo cáo kết quả công tác trước hội nghị thôn, tổ dân phố vào cuối sáu tháng đầu năm và cuối năm.
Quyền hạn của Tổ trưởng tổ dân phố bao gồm: a) Được ký hợp đồng xây dựng công trình do nhân dân đóng góp kinh phí đầu tư, đã được hội nghị thôn, tổ dân phố thông qua và bảo đảm các quy định liên quan của chính quyền các cấp. b) Được phân công nhiệm vụ cho Phó Tổ trưởng tổ dân phố, mời họp và cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến quản lý và hoạt động của thôn, tổ dân phố, đồng thời được bồi dưỡng và tập huấn về công tác tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố.
Theo quy định tại Điều 10 Thông tư 04/2012/TT-BNV, sửa đổi bởi Thông tư 14/2018/TT-BNV, Tổ trưởng tổ dân phố được trao quyền hạn cụ thể như sau:
Tổ trưởng tổ dân phố có quyền ký hợp đồng về xây dựng các công trình do nhân dân trong thôn hoặc tổ dân phố đóng góp kinh phí đầu tư, với điều kiện rằng các dự án này đã được hội nghị thôn, tổ dân phố thông qua và tuân thủ các quy định liên quan của chính quyền các cấp. Quyền hạn này cho phép Tổ trưởng tổ dân phố quản lý và thực hiện các công trình xây dựng một cách chính thức và hợp pháp, đảm bảo rằng các dự án được thực hiện đúng quy trình và đạt yêu cầu về chất lượng cũng như pháp lý.
Bên cạnh đó, Tổ trưởng tổ dân phố còn có quyền phân công nhiệm vụ cho Phó Tổ trưởng tổ dân phố hoặc các thành viên khác trong tổ dân phố để giải quyết các công việc cụ thể. Điều này giúp tổ chức công việc hiệu quả và linh hoạt hơn trong thôn, tổ dân phố. Ngoài ra, Tổ trưởng cũng được quyền yêu cầu chính quyền cấp xã mời họp và cung cấp các thông tin, tài liệu cần thiết liên quan đến quản lý và hoạt động của thôn, tổ dân phố. Quyền hạn này đảm bảo rằng Tổ trưởng có đủ thông tin và sự hỗ trợ cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả. Cuối cùng, Tổ trưởng còn được bồi dưỡng và tập huấn về công tác tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố, điều này không chỉ nâng cao năng lực quản lý mà còn giúp Tổ trưởng cập nhật và áp dụng các phương pháp và quy định mới nhất trong công việc của mình.
2. Tiêu chuẩn Trưởng thôn, Trưởng ấp, Tổ trưởng tổ dân phố hiện nay
Tiêu chuẩn đối với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố hiện nay được quy định rõ ràng tại Điều 11 Thông tư 04/2012/TT-BNV, bao gồm các yêu cầu cụ thể như sau:
Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố phải có hộ khẩu thường trú và cư trú liên tục tại thôn hoặc tổ dân phố nơi mình ứng cử. Điều này đảm bảo rằng người đảm nhiệm vị trí này hiểu rõ hoàn cảnh địa phương và có sự gắn bó mật thiết với cộng đồng. Ngoài ra, ứng viên cần phải từ 21 tuổi trở lên, có sức khỏe tốt, nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ một cách hiệu quả và tận tâm. Về phẩm chất, ứng viên phải có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, được nhân dân tín nhiệm, vì điều này phản ánh sự tin tưởng và tôn trọng của cộng đồng đối với họ. Đồng thời, bản thân và gia đình của ứng viên cần phải là những tấm gương về việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước cũng như các quy định của địa phương. Cuối cùng, ứng viên cần có kiến thức văn hóa, năng lực và kinh nghiệm thực tiễn, cùng với phương pháp vận động và tổ chức nhân dân thực hiện tốt các công việc tự quản của cộng đồng cũng như các nhiệm vụ được cấp trên giao, đảm bảo sự phát triển và quản lý hiệu quả tại địa phương.
3. Các chế độ, chính sách đối với trưởng thôn, trưởng ấp, tổ trưởng tổ dân phố
Tại buổi họp diễn ra vào chiều ngày 20/6/2024, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã thông báo rằng, từ ngày 01/7/2024, kế hoạch cải cách tiền lương sẽ được hoãn lại và thay vào đó, mức lương cơ sở sẽ được điều chỉnh tăng từ 1,8 triệu đồng/tháng lên 2,34 triệu đồng/tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan Nhà nước và lực lượng vũ trang. Sự điều chỉnh này tương đương với mức tăng lên đến 30%, điều này đồng nghĩa với việc các khoản lương, phụ cấp và trợ cấp cũng sẽ được tăng lên tới 30%, tạo ra một sự thay đổi đáng kể về mức thu nhập của đội ngũ công chức và viên chức. Đây là một con số khá lớn, phản ánh nỗ lực của chính phủ trong việc cải thiện đời sống và thu nhập của lực lượng lao động trong khu vực công, đồng thời hỗ trợ họ trong việc hoàn thành nhiệm vụ và trách nhiệm của mình một cách hiệu quả hơn.
Từ ngày 01/7/2024, mức trợ cấp đối với Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố, tùy thuộc vào địa bàn là thôn hay tổ dân phố, sẽ tiếp tục được tính theo mức khoán quy định tại khoản 2 Điều 34 Nghị định 33/2023/NĐ-CP. Theo quy định này, mức khoán áp dụng cho tối đa ba chức danh không chuyên trách tại thôn hoặc tổ dân phố. Điều này có nghĩa là Trưởng thôn và Tổ trưởng tổ dân phố sẽ nhận được khoản trợ cấp theo mức khoán được quy định sẵn, không thay đổi so với trước đây, nhằm bảo đảm tính đồng nhất và công bằng trong việc chi trả các khoản trợ cấp cho các chức danh không chuyên trách tại các địa phương. Chính sách này nhằm hỗ trợ các cán bộ không chuyên trách trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả và đồng thời duy trì sự ổn định trong hệ thống trợ cấp cho các chức danh này.
Do đó, trợ cấp Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố từ 01/7/2024 nằm trong mức phụ cấp dưới đây như sau:
| TT | Địa bàn áp dụng | Hệ số lương cơ sở | Mức khoán quỹ phụ cấp | |
| Từ 01/8/2023 đến hết 30/6/2024 | Từ 01/7/2024 trở đi | |||
| 1 | - Thôn có từ 350 hộ gia đình trở lên/tổ dân phố có từ 500 hộ gia đình trở lên. - Thôn, tổ dân phố thuộc xã trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự. - Thôn, tổ dân phố thuộc khu vực biên giới, hải đảo. - Thôn từ 350 hộ gia đình trở lên chuyển thành tổ dân phố do thành lập đơn vị hành chính đô thị cấp xã. | 6,0 | 10.800.000 đồng/tháng | 14.040.000 đồng/tháng |
| 2 | Các thôn, tổ dân phố không thuộc trường hợp ở trên. | 4,5 | 8.100.000 đồng/tháng | 10.530.000 đồng/tháng |
| 3 | Kiêm nhiệm nhiệm vụ của người hoạt động không chuyên trách khác ở cấp xã. | Hưởng 100% mức phụ cấp của chức danh kiêm nhiệm | ||
Có thể thấy, từ bảng trên, mức khoán phụ cấp của người không chuyên trách ở thôn trong đó có Trưởng thôn tăng cao nhất đến 3.240.000 đồng và thấp hơn là 2.430.000 đồng.
Mức tiền khoán cho các chức danh không chuyên trách như Bí thư chi bộ, Trưởng thôn/Tổ trưởng tổ dân phố, và Trưởng Ban công tác Mặt trận sẽ được áp dụng theo quy định nêu tại khoản 2 Điều 34 Nghị định 33/2023/NĐ-CP. Tuy nhiên, mức hưởng cụ thể cho từng chức danh sẽ được xác định dựa trên ba yếu tố chính. Đầu tiên, quỹ phụ cấp được khoán cho mỗi thôn hoặc tổ dân phố sẽ là căn cứ chính để tính toán mức trợ cấp. Thứ hai, nguồn kinh phí ngân sách dành cho cải cách tiền lương cũng sẽ ảnh hưởng đến mức trợ cấp cụ thể. Thứ ba, tình hình đặc thù của từng thôn, tổ dân phố sẽ được xem xét để điều chỉnh mức phụ cấp cho phù hợp. Sau khi tổng hợp các yếu tố trên, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để quy định mức phụ cấp cụ thể cho từng chức danh không chuyên trách cấp thôn, bao gồm Trưởng thôn và Tổ trưởng tổ dân phố.
Ngoài ra, Trưởng thôn có thể đảm nhiệm kiêm nhiệm chức danh không chuyên trách ở thôn khác, và theo quy định tại khoản 6 Điều 33 của Nghị định 33, có khuyến khích việc kiêm nhiệm các chức danh như Bí thư Chi bộ đồng thời là Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, hoặc Trưởng Ban công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố. Chính sách này nhằm tăng cường sự linh hoạt và hiệu quả trong quản lý nhân sự tại các cấp địa phương, đồng thời phát huy tối đa năng lực của các cán bộ không chuyên trách trong cộng đồng.
Xem thêm bài viết: Dự kiến thay đổi tiêu chuẩn đối với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố từ 2024?
Khi quý khách có thắc mắc về quy định pháp luật, vui lòng liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn.