1. Mang xe trộm cắp đem đi cầm đồ có phải ngồi tù?

Kính thưa luật sư, nhờ luật sư tư vấn giúp ! chồng em vài hôm trước vì không biết đã đi cầm cố chiếc xe máy cho người bạn và không có đăng ký xe và không phải là của anh ý và anh ta cho chồng em 15 triệu. Đến khi công an triệu tập mới biết là xe ăn cắp.
Vậy chồng em có bị phạm tội không và bị phạt như thế nào ạ?

>> Luật sư tư vấn luật hình sự về tội trộm cắp tài sản, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1.1. Trách nhiệm của chủ xe là như thế nào?

Theo Luật giao thông đường bộ 2008 thì chủ xe có trách nhiệm phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về đăng ký xe; có hồ sơ xe theo quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của xe và hồ sơ đăng ký xe; đưa xe đến cơ quan đăng ký xe để kiểm tra và nộp lệ phí đăng ký, cấp biển số xe theo quy định.

Trường hợp chủ xe được cơ quan đăng ký xe trước đây giao quản lý một phần hồ sơ xe thì khi làm thủ tục cấp, đổi lại giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe; sang tên, di chuyển xe; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe phải nộp lại phần hồ sơ đó.

Ngay khi có quyết định điều chuyển, bán, cho, tặng xe, chủ xe phải thông báo bằng văn bản theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này đến cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe đó để theo dõi. Trường hợp chủ xe không thông báo thì tiếp tục phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về chiếc xe đó đến khi tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe.

Nghiêm cấm mọi hành vi giả mạo hồ sơ, đục xóa số máy, số khung để đăng ký xe.

1.2. Xe hoạt động hợp pháp phải đăng ký là như thế nào ?

Xe cơ giới có nguồn gốc hợp pháp, bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định của Luật này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký và biển số.

Xe hoạt động hợp pháp phải cấp biển số xe ngay sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký xe hợp lệ.Cấp mới, đổi lại giấy chứng nhận đăng ký xe; cấp hồ sơ sang tên, di chuyển xe; cấp giấy chứng nhận thu hồi đăng ký, biển số xe thì thời gian hoàn thành thủ tục không quá 2 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.Trường hợp cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe bị mất thì thời gian xác minh và hoàn thành thủ tục không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.Cấp lại, đổi lại biển số xe ngay sau khi tiếp nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp phải chờ sản xuất biển số thì thời gian cấp, đổi lại không quá 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp đăng ký tạm thời thì cấp giấy đăng ký xe và biển số xe tạm thời ngay trong ngày.

1.3. Cầm xe người khác đứng tên bị xử phạt hành chính như thế nào ?

Chồng bạn có cầm cố tài sản của ngừoi khác mà không có giấy tờ đăng ký quyền sở hữu và không có giấy ủy quyền thì sẽ bị phạt tiền theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP cụ thể phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi nhận cầm cố tài sản mà theo quy định tài sản đó phải có giấy tờ sở hữu nhưng không có các loại giấy tờ đó; Cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác mà không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố.

Điều 11. Vi phạm các quy định về quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự
2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
...
d) Nhận cầm cố tài sản mà theo quy định tài sản đó phải có giấy tờ sở hữu nhưng không có các loại giấy tờ đó

1.4. Các yếu tố cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là như thế nào ?

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại Điều 323 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017. Điều luật quy định hai tội gồm:

– Tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có.

– Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có được hiểu là hành vi tuy không hứa hẹn trước nhưng đã chứa chấp tài sản mình biết rõ là do người khác phạm tội (như cướp, trộm cắp tài sản…) mà có.

Chứa chấp tài sản là một trong các hành vi sau đây: cất giữ, che giấu, bảo quản tài sản; cho để nhờ, cho thuê địa điểm để cất giữ, che dấu, bảo quản tài sản đó.

Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được hiểu là hành vi tuy không hứa hẹn trước nhưng đã tiêu thụ tài sản mà mình biết rõ là do người khác phạm tội mà có.Tiêu thụ tài sản là một trong các hành vi sau đây: mua, bán, thuê, cho thuê, trao đổi, cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký gửi, cho, tặng, nhận tài sản hoặc giúp cho việc thực hiện các hành vi đó.

Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội phạm này có các dấu hiệu sau:

Có hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có. Đây là hành vi nhận giữ tài sản của người khác và biết rõ tài sản này do người đó phạm tội (thông thường là các tội về chiếm đoạt) mà có được mặc dù không có hứa hẹn trước với người giữ tài sản.

Có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đây là hành vi chuyển dịch quyền sở hữu tài sản như bán, trao đổi… tài sản mà mình biết rõ tài sản đó là người khác phạm tội mà có (mặc dù không hứa hẹn trước).

Cần lưu ý: Các hành vi nêu trên phải có điều kiện là:

– Không có sự hứa hẹn trước với người giao tài sản là sẽ chứa chấp là sẽ tiêu thụ tài sản của người đó.

Khi nhận tài sản hoặc tiêu thụ tài sản thì mới biết rõ là do người giao tài sản phạm tội mà có được tài sản đó.

– Căn cứ để xác định người phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có phải “do phạm tội mà có” chứ không phải căn cứ vào giá trị tài sản mà họ chứa chấp, tiêu thụ. Nếu người có được tài sản đó nhưng không phải do phạm tội mà do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác mà có, hoặc hành vi của người có tài sản đó thiếu một trong các yếu tố cấu thành nêu trên thì chưa gọi là tài sản do người khác phạm tội mà có.

Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ngoài ra còn gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Chủ thể: Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

=> Do đó, nếu như chồng bạn biết rõ tài sản đó là trộm cắp mà vẫn tiêu thụ vẫn nhận cầm cố thì đã đủ yếu tố cấu thành tội này.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn cách thức trình báo công an khi bị mất trộm tài sản ? Mức phạt hành vi trộm cắp

2. Hình phạt gì với tội trộm cắp tài sản 7 triệu đồng ?

Kính thưa luật sư! Tôi muốn hỏi luật sư chồng tôi ăn chộm tiền là 7 triệu đồng, hiện tại chồng tôi bị tạm giam 8 ngày sau đó chồng tôi bị VKS tạm giam 2 tháng nữa, cho tôi hỏi chồng tôi sẽ bị mức phạt gì? chúng tôi đã trả lại 7 triệu đồng kia cho chủ sở hữu và họ không khởi kiện chồng tôi nữa ?
Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: H.Q

>> ​Luật sư tư vấn luật hình sự về hình phạt tội trộm cắp: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 173 Bộ Luật hình sự 2015 quy định về Tội trộm cắp tài sản như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Chồng của bạn đã thực hiện hành vi trộm cắp 07 triệu đồng, sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tùy vào từng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án, bạn của bạn có thể xử theo các khung hình phạt khác nhau.

Ngoài ra, Điều 155, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định:

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức

Theo điều luật này thì tội trộm cắp tài sản không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại vì vậy dù có đơn bãi nại của người bị hại hay không thì bạn của bạn vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Tư vấn cách xử lý khi bị vu oan tội trộm cắp tài sản ?

3. Tư vấn về khai báo tội phạm trộm cắp tài sản ?

Thưa luật sư: Vào khoảng 12h-14h30 ngày 9/4/2016 tại nhà cô giáo con, nơi mà con đang ở, có xảy ra mất trộm 3,5 triệu đồng. Khi đó, ở nhà có con, bà, cô, 1 bạn nam thuê nhà ở tầng 1 và 2 anh chị đang làm việc dưới tầng 1. Khi ăn cơm xong ở trên tầng 3, con rửa bát rồi xuống phòng mình, cũng là lúc bà đưa em lớn nhà cô đi học về, sau đó con làm khóa luận, được khoảng 30 phút thì con ngủ trưa.
Đến khoảng 14h30 khi tỉnh dậy thì thấy bà gào lên vì mất tiền. Từ khi con ở nhà cô, đến giờ là được hơn 1 năm, đây là lần thứ 2 mất tiền như vậy,cả 2 lần mất như nhau. Luật sư ạ, Lần trước cũng trong tích tắc vào buổi sáng và lần này là trong tích tắc vào buổi trưa. Bà nói,chỉ mất trong khoảng thời gian 10 phút từ lúc 12h15 bà đưa em đi học về, nhanh như vậy thì bạn nam thuê nhà kia không thể lên và vào phòng lấy nhanh vậy được, 2 anh chị kia cũng không thể lên, vậy mối nghi ngờ lớn nhất là con vì phòng con cạnh phòng bà. Nhưng con không biết bà rút tiền về lúc nào. Với lại con không có việc gì nên con cũng không sang phòng bà được.
Mấy hôm nay, không khí trong nhà rất tệ, mọi người nghi ngờ con lấy cắp và thái độ với con, con rất mệt mỏi. Trước đó cô bảo báo công an nhưng hôm qua, con lại thâý bà nói là nếu đã trộm thì xóa hết dấu vết rồi còn điều tra cái gì, nên đến giờ, con không biết đã báo chưa. Con lên mạng và tìm được thông tin tư vấn là mail của Luật sư, con biết, công việc này rất bận, Luật sư còn nhiều việc khác nữa, không biết mail của con có đến được tay Luật sư hay không, nhưng đây là hy vọng của con. Con mong, nhận được mail, Luật sư hãy tư vấn cho con, làm cách nào con có thể minh oan cho mình, con không có tiền để nhờ công an điều tra, nhưng không khí rất ngột ngạt, con muốn minh oan cho bản thân con để xóa đi sự nghi ngờ của cô và bà.
Con cảm ơn Luật sư rất nhiều ạ.

>> Luật sư Tư vấn Luật Hình sự: 1900.6162

Trả lời:

Các tổ chức, công dân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì ngôi nhà bạn đang ở đó đã bị ai đó trộm mất tiền 2 lần, với số tiền đều là 3,5 triệu đồng. Hành vi này có thể cấu thành tội trộm cắp tài sản theo điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo đó, bạn khẳng định, chắc chắn rằng mình không phải là người lấy số tiền đó, cũng như không nghi ngờ ai là người lấy số tiền đó. Chính vì vậy, để chứng minh được bạn không phải là người lấy trộm số tiền đó bạn nên đến cơ quan công an tố giác tội phạm theo trình tự thủ tục của Bộ Luật tố tụng hình sự 2015

Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.
2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.
3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.
4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.
5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Điều 145. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:
a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.
3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:
a) Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;
b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;
c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.
4. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Như vậy, để chứng minh được bạn là người không trộm số tiền đó, bạn có thể đến cơ quan công an phường để tố giác tội phạm, để cơ quan công an tìm ra thủ phạm thực sự đã lấy cắp số tiền đó minh oan cho bạn. Đây là trách nhiệm của công an, do đó, bạn không cần phải nộp tiền để cơ quan công an tiến hành điều tra, xác minh sự thật. Bạn chỉ cần đến và khai báo đầy đủ thông tin, các tình tiết cụ thể chi tiết liên quan đến vụ trộm cắp để làm căn cứ để cơ quan điều tra tìm ra tội phạm.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

4. Tư vấn xử lý tội trộm cắp tài sản ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: A trộm cắp tài sản của C trị giá 300 triệu đồng. Hành vi của A được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 BLHS. A bị đưa ra xét xử và bị tòa án xử phạt 7 năm tù .

Luật sư cho tôi hỏi:

1. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS hãy phân loại tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 BLHS ?

2. Tội trộm cắp tài sản đó là tội có CTTP vật chất hay CTTP hình thức? Tại sao?

3. Nếu trong quá trình điều tra xác định được khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nói trên A đang bị mắc bệnh tâm thần thì A có phải chịu TNHS không ? Tại sao ?

4. Nếu có đủ căn cứ xác định A chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản là chiếc xe máy trị giá 300 triệu đồng nói trên thì A có phải chịu TNHS không? Tại sao?

5. Giả sử Tòa án căn cứ Điều 47 BLHS xử phạt A 3 năm tù , thì có thể cho A hưởng án treo được không ? Tại sao ?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: M.V

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

1. Hành vi của A được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ Luật hình sự 2015. A bị đưa ra xét xử và bị tòa án xử phạt 7 năm tù. Như vậy, mức hình phạt mà A phải chấp hành là 7 năm tù.

Khoản 3 Điều 138 BLHS quy định

“Điều 9. Phân loại tội phạm

1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

A bị phạt 7 năm tù, giá trị tài sản mà A trộm là 300 triệu đồng và hành vi của A được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 138 nên A thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng.

2. Trước hết muốn trả lời câu hỏi, tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 BLHS là tội có cấu thành tội phạm hình thức hay vật chất thì phải hiểu được khái niệm của mỗi loại cấu thành.

Cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành tội phạm bắt buộc về mặt khách quan của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Cấu thành tội phạm vật chất là cấu thành tội phạm mà các dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra

Điều 138 BLHS quy định như sau về tội trộm cắp tài sản " Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".

Trong trường hợp này: hành vi phạm tội là trộm cắp tài sản (hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác), dấu hiệu của hậu quả là tài sản có "có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng"

=> Tội trộm cắp tài sản là tội có cấu thành tội phạm vật chất.

3. Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nói trên, A đang bị mắc bệnh tâm thần thì A sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Căn cứ theo Điều 21 BLHS 2015 thì

Điều 21. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Nếu A thực hiện hành vi phạm tội của mình trong khi đang mắc bệnh tâm thần thì không phải chịu TNHS. Trong trường hợp này A không đủ năng lực TNHS nên không có lỗi. Năng lực TNHS là điều kiện cần thiết để xác định con người có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ người có năng lực TNHS mới có thể là chủ thể của tội phạm. Người trong tình trạng không có năng lực TNHS là người đã mất năng lực hiểu biết những đòi hỏi của xã hội liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hội, không đánh giá được hành vi đã thực hiện là đúng hay sai, nên làm hay không nên làm.

4. Điều 17 BLHS quy định:

Điều 14. Chuẩn bị phạm tội
1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.
2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.”.

5. Điều 47 BLHS quy định

Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.
2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

Như vậy việc Tòa án căn cứ Điều 47 để ra hình phạt cho tội của A là 3 năm tù là hoàn toàn phù hợp.

Như vậy A vẫn có thể được hưởng án treo nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù.

5. Tư vấn tội trộm cắp tài sản theo Luật hình sự Việt Nam

Thưa luật sư, nhà em trót câu trộm điện dùng mà các anh điện lực bắt được đòi phạt 8 triệu mà không có biên lai gì cả đồ dùng trong nhà gồm có (1 ti vi 21ing, 5 bóng điện huỳnh quang, 1 tủ lạnh mini, 1 bình nước nóng,) cho em hỏi nhà em bị phạt như vậy có đúng không ạ ? Cảm ơn!

Hành vi của bạn có thể cấu thành nên tội Trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ Luật hình sự 2015.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê