- 1. Giáo dục nghề nghiệp là gì?
- 2. Vì sao cần triển khai giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề
- 3. Đào tạo nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề
- 4. Trách nhiệm của người sử dụng lao động về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề
- 5. Học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động
- 6. Hợp đồng đào tạo nghề giữa người sử dụng lao động, người lao động và chi phí đào tạo nghề
Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900 6162
Cơ sở pháp lý:
- Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014
1. Giáo dục nghề nghiệp là gì?
Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên.
2. Vì sao cần triển khai giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề
Giáo dục nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu nhân lực phục vụ sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Giáo dục nghề nghiệp được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên. Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.
Phát triển kỹ năng nghề nghiệp có thể hiểu là quá trình hình thành, nâng cao khả năng thực hiện công việc nghề nghiệp của con người trong một thời gian thích hợp, với các điều kiện nhất định, trên cơ sở sự tích hợp nhuần nhuyễn các kiến thức, kỹ năng, thái độ có mục đích giúp nâng cao trình độ kĩ năng nghề, từng bước cho người được đào tạo hoàn thiện hơn nữa năng lực chuyên môn.
Đối với nhà nước và xã hội, sử dụng hợp lý nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất để một quốc gia có thể phát triển nhanh chóng và bền vững. Nhận thức được tầm quan trọng của việc đào tạo nghề, Việt Nam đã ban hành luật giáo dục nghề nghiệp 2014. Tuy nhiên hoạt động giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề không chỉ thuộc phạm vi điều chỉnh của luật giáo dục nghề nghiệp. Bởi, khi có mục tiêu hướng đến quan hệ lao động và liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động thì cần nghiên cứu các quan hệ trên với tư cách là một loại quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Theo đó, bộ luật lao động cũ năm 1994 được ban hành đánh dấu sự phát triển của pháp luật lao động và lần đầu tiên các quy định về học nghề được quy định thành một chương riêng thể hiện vai trò của việc dạy và học nghề đối với việc cung cấp nguồn nhân lực cho thị trường lao động nước ta.
Đến nay, luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 đã có các quy định chi tiết về việc học nghề, đào tạo nghề nên chương bốn bộ luật lao động năm 2019 chủ yếu điều trị những vấn đề cơ bản, khái quát về đào tạo nghề, học nghề và tập nghề để làm việc cho doanh nghiệp.
Tên chương là "giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề" đã thể hiện sự thống nhất với Luật giáo dục nghề nghiệp và thể hiện đúng tinh thần của bốn điều luật trong trường này. Từ điều 59 đến điều 62 của Bộ luật lao động năm 2019 tập trung vào các nội dung như: đào tạo nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề; trách nhiệm của người sử dụng lao động về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề; học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; hợp đồng đào tạo nghề và chi phí đào tạo nghề.
3. Đào tạo nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề
Việc trao cho người lao động quyền tự do lựa chọn đào tạo nghề nghiệp, phát triển kỹ năng nghề nghiệp một mặt cụ thể hóa quyền tự do, dân chủ của công dân theo hiến pháp Việt Nam, mặt khác hiện thực hóa quyền tự do làm việc của người lao động được quy định tại điều 10 bộ luật này. Tuy nhiên, quyền tự do lựa chọn đào tạo nghề nghiệp được bảo đảm tốt hơn khi có sự tham gia của người sử dụng lao động bởi đây là chủ thể tổ chức các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong quá trình đó, người sử dụng lao động xuất hiện những yêu cầu về lao động, yêu cầu về chuyên môn và trình độ nghề khác nhau. Vì vậy, nhà nước luôn có những chính sách khuyến khích người sử dụng lao động có đủ điều kiện đào tạo nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề cho người lao động đang làm việc cho mình và người lao động khác trong xã hội.
Nhằm tạo điều kiện phát triển cho hoạt động đào tạo nghề, điều 59 Bộ luật lao động đã quy định việc khuyến khích người sử dụng lao động phối hợp với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác theo quy định. Đồng thời, nhà nước cũng khuyến khích người sử dụng lao động áp dụng hình thức tổ chức thi kỹ năng nghề cho người lao động; tham gia hội đồng kĩ năng nghề; dự báo nhu cầu và xây dựng tiêu chuẩn kĩ năng nghề; tổ chức đánh giá và công nhận kĩ năng nghề; phát triển năng lực nghề nghiệp cho người lao động.
4. Trách nhiệm của người sử dụng lao động về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề
Theo điều 60 Bộ luật lao động năm 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm:
Một là, trách nhiệm xây dựng kế hoạch hằng năm và dành kinh phí cho việc đào tạo và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động đang làm việc cho mình; đào tạo cho người lao động trước khi chuyển làm nghề khác cho mình. Theo đó, một trong những nhiệm vụ bắt buộc của người sử dụng lao động là phải đào tạo nghề cho người lao động trước khi chuyển họ sang làm nghề khác cho mình. Sở dĩ bộ luật lao động quy định như vậy là suất phát từ việc người sử dụng lao động có thể chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động. Vì vậy, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm trang bị kiến thức, kỹ năng nghề mới để người lao động thực hiện công việc hiệu quả, tránh tình trạng hiện nay của doanh nghiệp cố ý chuyển người lao động làm công việc khác mà không đào tạo cho họ, dẫn đến người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc mới.
Hai là, trách nhiệm thông báo kết quả đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho cơ quan chuyên môn, lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Mục đích của việc yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện nghĩa vụ thông báo là nhằm thông qua việc nắm bắt kết quả đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, nhà nước có thể nắm được nhu cầu nghề nghiệp của người lao động, năng lực đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp của các cơ sở dạy nghề, từ đó kịp thời có những chính sách phù hợp phục vụ cho việc phát triển nghề nghiệp.
5. Học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động
Đây là quy định có nhiều điểm mới trong chương này, cụ thể là:
Thứ nhất, bổ sung khái niệm học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động. Trước đây, bộ luật lao động cũ năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định cụ thể giải thích thế nào là học nghề, tập nghề. Khi bộ luật lao động năm 2019 ra đời đã lấp khoảng trống này và là cơ sở để các bên xác định rõ quan hệ học nghề hay tập nghề, tránh nhầm lẫn giữa quan hệ học nghề, tập nghề với quan hệ lao động.
Theo điều 61 Bộ luật lao động năm 2019, cần phân biệt giữa hai trường hợp học nghề và tập nghề. Học nghề là khái niệm chỉ việc học kiến thức, kỹ năng nghề một cách bài bản, có người hướng dẫn, giáo cụ và chương trình, phương pháp riêng. Người học nghề là người cho có kiến thức, kỹ năng về nghề nghiệp nên người sử dụng lao động, đào tạo. Còn tập nghề là khái niệm chỉ việc dạy thực hành nghề, mục tiêu là thực hành thành thạo để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh. Người tập nghề là người đã có kiến thức, kỹ năng về nghề nghiệp và được người sử dụng lao động tuyển vào để hướng dẫn thực hành theo một vị trí nhất định.
Thứ hai, quy định cụ thể về thời gian học nghề, thời hạn tập nghề. Xuất phát từ bản chất khác nhau giữa học nghề và tập nghề nên thời gian học nghề, tập nghề cũng được quy định khác nhau cụ thể là, thời gian học nghề được thực hiện theo chương trình đào tạo của từng trình độ theo quy định của luật giáo dục nghề nghiệp, còn thời hạn tập nghề được quy định rõ tối đa không quá 03 tháng. Quy định này là cần thiết nhằm tránh việc người sử dụng lao động lợi dụng việc học nghề, tập nghề để trốn tránh nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Thứ ba, quy định rõ hơn về việc ký hợp đồng đào tạo. Theo đó, khi tuyển người vào học nghề, tập nghề, Bộ luật lao động năm 2019 quy định hai bên phải ký hợp đồng đào tạo nghề. Với việc dẫn chiếu tại khoản 3 Điều 61 Bộ luật lao động năm 2019 sang Luật giáo dục nghề nghiệp, các bên có thể hiểu rõ hơn về nội dung của loại hợp đồng này. Cụ thể, theo điều 39 Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014, doanh nghiệp tuyển người vào đào tạo để làm việc cho doanh nghiệp thì hợp đồng đào tạo phải có những nội dung chủ yếu như sau:
+ Tên gì đào tạo hoặc các kỹ năng nghề đạt được;
+ Địa điểm đào tạo;
+ Thời gian hoàn thành khóa học;
+ Mức học phí và thanh toán học phí;
+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mỗi đêm khi vi phạm hợp đồng;
+ Thanh lý hợp đồng;
+ Các khoản thỏa thuận khác không trái pháp luật và đạo đức xã hội;
+ Cam kết của người học về thời hạn làm việc cho doanh nghiệp;
+ Cam kết của doanh nghiệp về việc sử dụng lao động sau khi học xong;
+ Thỏa thuận về thời gian và mức tiền công cho người học trực tiếp hoặc tham gia làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp trong thời gian đào tạo
+ Hợp đồng đào tạo theo hình thức kèm cặp ngay tại doanh nghiệp ngoài các nội dung trên thì hai bên phải có thỏa thuận thời gian bắt đầu được trả công và mất tiền công trả cho người học theo từng thời gian.
Thứ tư, quy định rõ hơn về độ tuổi học nghề, tập nghề đối với nghề thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao. Cụ thể là người học, tập trong danh mục các nghề này đòi hỏi phải từ đủ 18 tuổi trở lên (Lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao)
Thứ năm, điều luật đã quy định người sử dụng lao động phải trả lương nếu người học nghề, người tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động. Có thể thấy quy định này của luật đã bảo vệ quyền của người lao động hơn so với quy định trước đây (Người học nghề, tập nghề khi trực tiếp hoặc tham gia lao động phải làm ra sản Phẩm hợp quy cách mới được trả lương). Như vậy, người sử dụng lao động không thể trốn tránh trả lương cho người lao động bằng cách đưa ra nhiều tiêu chuẩn khác nhau để một sản phẩm được coi là hợp quy cách.
Việc quy định một cách cụ thể về học nghề, tập nghề như bộ luật lao động năm 2019 sẽ giúp hạn chế những bất cập có thể xảy ra trên thực tiễn như: doanh nghiệp áp dụng thời gian đào tạo nghề, tập nghề rất dài nhằm trốn tránh nghĩa vụ khi giao kết hợp đồng lao động và nghĩa vụ tham gia các loại bảo hiểm bắt buộc do không có quy định cụ thể về việc người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người học nghề, tập nghề; một số doanh nghiệp lợi dụng, bóc lột sức lao động của người học nghề, tập nghề giáo chưa có pháp luật điều chỉnh về tiền lương đối với nhóm người này.
6. Hợp đồng đào tạo nghề giữa người sử dụng lao động, người lao động và chi phí đào tạo nghề
Điều 62 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về hợp đồng đào tạo nghề. Điều này quy định một số vấn đề như: hai bên phải ký hợp đồng lao động đào tạo nghề trong một số trường hợp; nội dung chủ yếu của hợp đồng đào tạo nghề; chi phí đào tạo;... Theo đó, khi ký hợp đồng đào tạo nghề, các bên cần ghi rõ loại nghề được đào tạo để đảm bảo đào tạo nghề được tổ chức trên thực tế, tránh tình trạng chỉ tổ chức một cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm,...; địa điểm, thời gian và tiền lương trong thời gian đào tạo; các chi phí đào tạo hợp pháp liên quan tới chương trình đào tạo có chứng từ hợp lệ và trách nhiệm hoàn trả các chi phí này khi vi phạm hợp đồng đào tạo nghề; thời hạn người lao động cam kết làm việc sau khi đào tạo (hạn chế tình trạng chảy máu chất xám, người lao động sau khi được đào tạo lại đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và giao kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động khác hoặc tự thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh riêng); trách nhiệm của người lao động; trách nhiệm của người sử dụng lao động khi ký kết loại hợp đồng này do hai bên tự do thỏa thuận phù hợp với những mong muốn của từng bên đối với bên kia.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập