khuyến khích về thuế được áp dụng ngày càng nhiều nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài; đồng thời, bên cạnh đó là những nỗ lực của từng quốc gia trong việc xây dựng môt cơ chế hợp lý để quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

1. Một số khái niệm cơ bản

Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử.Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của nhà nước.Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, nhà nước cần có nguồn vật chất để thực hiện những chi tiêu có tính chất xã hội. Bằng quyền lực chính trị, nhà nước thu một bộ phận của cải xã hội để có được nguồn vật chất đó. Quan hệ thu nộp những nguồn vật chất này chính là thuế.

Mặc dù có rất nhiều cách định nghĩa về thuế, nhưng chúng ta có thể hiểu một cách khái quát nhất về thuế như sau: “Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định”.

Với cách nhìn nhận khách quan về thuế, có thể thấy bản chất của thuế là loại quan hệ phân phối gắn với nhà nước, loại quan hệ giữa nhà nước với người nộp thuế. Bản chất này không thay đổi trong những xã hội có chế độ kinh tế, chính trị khác nhau. Bất kể xã hội nào cũng thể hiện quan hệ thu và nộp như nhau.

Quản lý thuế là hoạt động của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để tổ chức, điều hành hệ thống quản lý thu thuế nhằm động viên nguồn thu từ thuế vào ngân sách nhà nước theo những quy định của pháp luật về thuế.

Quản lý thuế có vai trò quyết định trong việc đưa chính sách thuế vào cuộc sống. Hoạt động quản lý thuế là sự tác động có tổ chức, tuân theo những quy tắc nhất định và mang tính quyền lực Nhà nước. Đây cũng có thể coi là hoạt động quản lý hành chính – kinh tế trong lĩnh vực thuế.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam do cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam cấp giấy phép thành lập hoặc hoạt động kinh doanh theo các hợp đồng hợp tác kinh doanh.

2. Vai trò của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ đáp ứng một lượng vốn lớn cho nền kinh tế. Đặc biệt như với nước ta lượng vốn còn hạn chế, nguốn vốn bổ sung từ đầu tư nước ngoài sẽ đáp ứng lượng vốn đầu tư mua sắm trang thiết bị, mở rộng sản xuất và phát triển mọi mặt cho các ngành kinh tế. Hơn nữa sự có mặt của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần hình thành và phát triển trong cả nước hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại, đem lại hiệu quả cao

Sự có mặt của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ làm tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước. Khi có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, muốn tốn tại và phát triển các doanh nghiệp trong nước phải có những triến lược phát triển của mình, cải thiện chất lượng và mẫu mã sản phẩm, tăng sức cạnh tranh. Các doanh nghiệp trong nước cần mở rộng thị phần, gia tăng cả về chất lượng và số lượng sản phẩm.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình đầu tư vào Việt Nam sẽ đem theo những dây truyền công nghệ mới, điều này sẽ cải thiện tình trạng công nghệ lạc hậu của các doanh nghiệp Việt Nam. Đây là bước đầu cải thiện và đổi mới hoàn toàn công nghệ trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Từ đây phát triển một số ngành kinh tế quan trọng có hàm lượng kỹ thuật cao mà Việt Nam còn nhiều tiềm năng như viễn thông, thăm dò và khai thác, chế biến dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy...

Ngoài ra, việc hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài cũng mang lại lợi ích trong việc nâng cao năng lực trình độ quản lý của các nhà quản lý Việt Nam. Với những nước đang phát triển như nước ta doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ là trường đào tạo các bộ quản lý tốt nhất bởi lẽ với yêu cầu ngày càng cao của công việc, của hội nhập kinh tế lực lượng cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ có môi trường để thực tập, cọ sát và học tập không ngừng nâng cao trình độ của mình.

Môi trường làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng sẽ tạo cho người lao động tác phong công nghiệp trong lao động, góp phần đào tạo và nâng cao trình độ tay nghề cho mỗi lao động. Điều này sẽ gián tiếp làm tăng năng suất lao động, tạo việc làm và tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao.

Ở tầm vĩ mô, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn tạo điều kiện cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Tạo điều kiện để Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn vào đời sống kinh tế quốc tế.

3. Sơ lược về lịch sử hình thành quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp

Ở Việt Nam, trước đây, năm 1951, thuế đánh vào lợi tức của các doanh nghiệp nằm trong thuế công – thương nghiệp chung với thuế môn bài, thuế buôn chuyến,…và lúc đó được đặt tên là Thuế thực lãi với thuế suất lũy tiến từ 5% đến 27%. Sau đó, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VIII 06/1990, Luật thuế lợi tức được thông qua.

Tại kỳ họp IX ngày 10/05/1997, thay cho Luật Thuế lợi tức bị bãi bỏ là Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Kể từ đó đến nay, loại thuế này đã tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế - xã hội, không chỉ mang lại số thu tăng hơn nhiều so với Thuế lợi tức trước đây mà còn góp phần tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước.

Trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, thuế thu nhập doanh nghiệp có thể hiểu như sau: “Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, thu vào phần thu nhập của các cơ sở kinh doanh nhằm đảm bảo sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển”.

Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam, vừa là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội, vừa là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước.

4. Nội dung quản lý thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Chế độ quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng và chế độ quản lý thuế nói chung bao gồm một hệ thống các quy trình theo từng chức năng quản lý thuế, trong mỗi quy trình đó, có thể có các quy trình nhở hơn để thực hiện từng công việc cụ thể của một chức năng quản lý thuế, cụ thể:

Tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp nộp thuế

Các hình thức tuyên truyền như qua hệ thống tuyên giáo, tờ rơi, pa nô, áp phích, các phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử,…Hình thức hỗ trợ cho doanh nghiệp như tập huấn, đối thoại, phát tài liệu, giải đáp qua điện thoại, trực tiếp tại cơ quan thuế, bằng văn bản.

Giải quyết thủ tục hành chính thuế

Đăng ký thuế là việc doanh nghiệp thực hiện khai báo một số thông tin định danh (tên, địa chỉ, quyết định thành lập, vốn điều lệ, ngành nghề kinh doanh,…của mình và nghĩa vụ nộp một (hoặc một số) loại thuế với cơ quan thuế.

Bộ phân một cửa nhận hồ sơ đăng ký thuế, đóng dấu ngày nhận vào tờ khai đăng ký thuế và ghi sổ nhận hồ sơ thuế.Sau đó chuyển hồ sơ đăng ký thuế cho phòng kê khai – kế toán thuế ngay trong ngày. Phòng sẽ kiểm tra thủ tục hồ sơ đăng ký thuế theo đúng quy định về đăng ký cấp mã số thuế; kê khai đúng mẫu hồ sơ quy định; kê khai đầy đủ chỉ tiêu. Nếu hồ sơ đăng ký được chấp nhận thì phòng kê khai – kế toán thuế nhập và xử lý thông tin thuế trên máy tính, truyền dữ liệu về trung tâm tin học – thống kê Tổng cục thuế để kiểm tra tính duy nhất và hợp lệ của mã số thuế. Cuối cùng, phòng kê khai – kế toán thuế in, trình ký giấy chứng nhận đăng ký thuế, thông báo mã số thuế, phân cấp quản lý doanh nghiệp và trả kết quả đăng ký thuế cho doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp mới thành lập, trong quá trình xét hồ sơ đăng ký thuế để cấp mã số thuế, nếu doanh nghiệp có gửi kèm đơn xin mua hóa đơn thì cơ quan thuế phải thực hiện các minh địa điểm trụ sở đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp để giải quyết cấp sổ mua hóa đơn cho doanh nghiệp.

Công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế

Thanh tra, kiểm tra là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp doanh nghiệp nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ.

Công tác thu nợ và cưỡng chế nợ

Phòng quản lý nợ và cưỡng chế thuế thường xuyên nắm tình hình nợ thuế của từng doan h nghiệp do phòng phụ trách để kịp thời nhắc nhở doanh nghiệp nộp số thuế còn nợ

Căn cứ kế hoạch được lập, phòng quản lý doanh ngheiejp phải thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ theo quy định, đồng thời công khai danh sach doanh nghiệp cố tình chây ỳ nợ thuế; lập hồ sơ các trường hợp nợ lớn kéo dài hoặc có hành vi vi phạm nặng chuyển cho phòng Thanh tra thuế để thực hiện các biện pháp cưỡng chế về thuế theo quy định.

Phòng thanh tra theo dõi kết quả xử lý của các cơ quan pháp luật đối với các hồ sơ đã gửi. Định kỳ hàng tháng tập hợp số hồ sơ gửi và kết quả xử lý, số hồ sơ tồn đọng để báo cáo Cụ thuế và Tổng cục thuế.

Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế

Trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính về thuế mọi tổ chức cá nhân vi phạm pháp luật về thuế có thể bị khiếu nại, tố cáo thậm chí khởi kiện ra tòa án nếu thấy lợi ích của mình hoặc của bên thứ ba bị xâm hại theo quy định của pháp luật hiện hành.

5. Sự cần thiết của hoạt động quản lý thuế

Thực tế đã chứng minh, quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp là một nhân tố quan trọng trong khung chính sách của nước tiếp nhận đầu tư, hoạt động quản lý thuế nói chung và quản lý thuế doanh nghiệp nói riêng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là rất cần thiết. Điều đó thể hiện qua các mặt sạu:

Một là, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo đúng đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước.

Mục đích cao nhất của các nhà đầu tư là lợi nhuận. Do đó, những lĩnh vực, ngành, dự án có tỷ suất lợi nhuận cao đều được các nhà đầu tư quan tâm, còn những dự án, lĩnh vực khác mặc dù rất cần thiết cho dân sinh, nhưng không đưa lại lợi nhuận thỏa đáng thì không thu hút được đầu tư nước ngoài.

Mặc khác, các nhà đầu tư nước ngoài trong khi lựa chọn địa điểm để triển khai dự án đầu tư thường tập trung vào những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuận lợi, do đó các thành phố lớn, những địa phương có nhiều cảng biển, càng hàng không, các tỉnh đồng bằng là nơi tập trung nhiều dự án đầu tư nước ngoài nhất.

Đối với các ngành nghề cũng xảy ra tình trạng tương tự, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ đầu tư vào các ngành có khả năng sinh lợi cao, rủi ro thấp, còn các ngành, lĩnh vực có khả năng sinh lời thấp, rủi ro cao không được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài.

Với các quy định về ưu đãi thuế, miễn thuế, giảm thuế ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư của từng ngành, khu vực, thuế thu nhập doanh nghiệp giúp tránh tình trạng mất cân đối đầu tư giữa các ngành nghề và vùng lãnh thổ, hướng dòng vốn đầu tư vào những ngành nghề, vùng lãnh thổ cần được quan tâm phát triển theo đúng đường lối phát triển kinh tế của đất nước.

Hai là, giảm thiểu các hành vi gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp, chống thất thu thuế cho Ngân sách nhà nước.

Để làm giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, hiện nay các doanh nghiệp sử dụng rất nhiều thủ đoạn tinh vi khác nhau. Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với những đặc điểm riêng biệt về nguồn phát sinh thu nhập và nơi cư trú thì các hành vi này lại càng tinh vi và khó phát hiện hơn. Vì thế, công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với loại hình doanh nghiệp này lại càng được quan tâm, chú trọng tăng cường hơn.

Ba là, tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư và khuyến khích tái đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Nhìn chung, các nhà đầu tư có xu hướng lựa chọn các nướp tiếp nhận đầu tư có thuế suất thu nhập doanh nghiệp thấp. Mặc khác, tính minh mạch của hệ thống quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp và tính thuận tiện của các thủ tục hành chính thuế cũng ảnh hưởng rất nhiều đến chi phí và cơ hội đầu tư, như:

-Thủ tục hành chính thuế phức tạp cũng khiến các nhà đầu tư lo ngại khi lựa chọn địa điểm đầu tư.

-Tham nhũng ở nước nhận đầu tư sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài, khiến cho chi phí đầu tư và chi phí kinh doanh tăng lên và làm cho các cơ hội đầu tư trở nên không chắc chắn.

Đặc biệt, trong tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động như hiện nay, thì việc tăng cường các ưu đãi đầu tư, nâng cao tính minh bạch của môi trường đầu tư trong đó có hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp là hết sức cần thiết.

Trân trọng!