1. Bối cảnh lịch sử ra đời công ước Viên

Công ước VIÊN năm 1969 là điều ước quốc tế đa phương đầu tiên quy định những nguyên tắc và quy phạm cơ bản về việc kí kết, hiệu lực, bảo lưu, thi hành, giải thích, bổ sung, sửa đổi, giải quyết tranh chấp về điều ước, chấm dứt hiệu lực các điều ước quốc tế và một số thủ tục khác liên quan đến việc lưu chiểu, thông báo, công bố và đăng kí điều ước quốc tế, kí kết giữa các quốc gia với nhau.

Sự ra đời của Công ước Viên năm 1969 và Công ước Viên năm 1986 về luật điều ước quốc tế đã đặt nền móng, cơ sở xây dựng những quy phạm pháp luật liên quan đến quá trình ký kết, gia nhập thực hiện điều ước quốc tế thống nhất trên phạm vi toàn cầu.

Công ước Viên 1969 (Luật Điều ước quốc tế) là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế bao gồm tổng thể các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật quốc tế, điều chỉnh quan hệ ký kết và thực hiện điều ước quốc tế giữa các chủ thể luật quốc tế với nhau.

Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969 (“Công ước Viên” hoặc “VCLT 1969”) là điều ước quốc tế đa phương duy nhất điều chỉnh quan hệ điều ước giữa các quốc gia. Công ước Viên được Ủy ban Luật pháp Quốc tế (“ILC”) nghiên cứu dự thảo từ năm 1949. Dự thảo gồm 75 điều khoản (xem Dự thảo và thuyết minh điều khoản tại đây). Năm 1966 ILC thông qua dự thảo các điều khoản về luật điều ước quốc tế, gửi cho Đại hội đồng Liên hợp quốc và đề nghị Đại hội đồng ra nghị quyết triệu tập một hội nghị ngoại giao để thông qua một công ước quốc tế. Thuận theo đề nghị của ILC, ngày 5 tháng 12 năm 1966, Đại hội đồng thông qua Nghị quyết 2166 (XXI) “quyết định triệu tập một hội nghị quốc tế toàn thể để xem xét vấn đề luật điều ước quốc tế và ghi nhận kết quả bằng một công ước quốc tế và các văn kiện khác nếu phù hợp.”

Hội nghị Liên hợp quốc về Luật điều ước quốc tế kéo dài hai phiên họp tại Vienna (Áo) vào năm 1968 và 1969. Phiên họp thứ nhất năm 1968 có sự tham gia của đại diện 103 quốc gia và quan sát viên từ 13 tổ chức quốc tế.[3] Phiên họp thứ hai vào năm 1969 có đại diện của 110 quốc gia và quan sát viên.[4] Tại Hội nghị này, Việt Nam Cộng hòa có cử đại diện tham gia (Danh sách đoàn tham gia năm 1968 và 1969). (Ít nhất) có một ý kiến của đoàn Việt Nam Cộng hòa được Hội nghị chấp nhận để bổ sung vào văn kiện Công ước Viên sau này (Điều 35 trong vấn đề Hiệu lực của điều ước quốc tế với bên thứ ba).

Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế được thông qua tại Hội nghị vào ngày 22 tháng 5 năm 1969 với 79 phiếu ủng hộ, 01 phiếu chống và 19 phiếu trắng. Hội nghị này cũng là hội nghị pháp điển hóa luật pháp quốc tế cuối cùng mà văn kiện được thông qua bằng cách bỏ phiếu;[5] các hội nghị sau đều dùng cách đồng thuận. Công ước có hiệu lực vào ngày 27 tháng 01 năm 1980 sau khi có đủ 35 quốc gia phê chuẩn theo quy định tại Điều 84(1). Hiện nay Công ước có 116 quốc gia thành viên.[6]

Việt Nam gia nhập Công ước vào ngày 10 tháng 10 năm 2001, kèm theo một bảo lưu đối với Điều 66.[7] Một số quốc gia quan trọng không là thành viên của Công ước bao gồm Mỹ, Pháp, Ấn Độ, Nam Phi, Pakistan; ở khu vực ASEAN năm nước chưa gia nhập bao gồm Brunei, Campuchia, Indonesia, Singapore, và Thái Lan.

2. Khái quát về Công ước Viên

Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước gồm Lời nói đầu và 07 chương, chia thành 85 điều kèm 01 Phụ lục, được Hội nghị của Liên hợp quốc gồm đại diện của 110 quốc gia thông qua ngày 22/5/1989 và mở kí lại để các quốc gia kí tại Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Áo từ ngày 23/5/1969 và sau đó tại trụ sở Liên hợp quốc ở Niu Yooc đến ngày 30/4/1970, Công ước có hiệu lực kể từ ngày 27/01/1980. Đến nay, đã có trên 90 quốc gia là thành viên Công ước này, trong đó có Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngày 22/8/2001, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã kí Quyết định số 631/2001/QĐ/CTN phê chuẩn việc Việt Nam gia nhập Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước, Ngày 05/9/2001, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam đã kí Công hàm gia nhập gửi Tổng thư kí Liên hợp Quốc. Việt Nam chính thức trở thành thành viên Công ước kể từ ngày 09/11/2001.

Công ước quy định cho phép bảo lưu đối với các quy định về giải quyết tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng các điều khoản thuộc Chương V (vô hiệu, chấm dứt và tạm đình chỉ thi hành điều ước), phải bắt buộc thông qua cơ chế Uỷ ban hoà giải hoặc phải công nhận thẩm quyền mặc nhiên xét xử của Toà án quốc tế chỉ theo yêu cầu của một bên tranh chấp.

Khi gia nhập Công ước này, Việt Nam đã bảo lưu Điều 66, theo đó, Toà án quốc tế có thẩm quyền giải quyết tranh chấp cả trong những trường hợp chỉ do một bên tranh chấp yêu cầu. Việt Nam không thể chấp nhận quy trình giải quyết tranh chấp như vậy, với lí do Việt Nam đã là thành viên Quy chế Toà án quốc tế, song chưa công nhận thẩm quyền xét xử mặc nhiên của toà án. Bảo lưu nêu trên hoàn toàn phù hợp với thực tiễn quốc tế, không trái với quy định của Công ước Viên năm 1969.

3. Đối tượng, phạm vi điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh: bao gồm các quan hệ phát sinh trong hoạt động của các chủ thể luật quốc tế tham gia vào quá trình ký kết, gia nhập, thực hiện điều ước quốc tế.

Phạm vi điều chỉnh: chỉ điều chỉnh hoạt động ký kết điều ước quốc tế giữa các quốc gia với nhau và giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế liên chính phủ hoặc giữa các tổ chức quốc tế Liên Chính phủ với nhau.

Công ước Viên là điều ước quốc tế duy nhất hiện nay điều chỉnh quan hệ điều ước giữa các quốc gia. Năm 1986 Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế giữa quốc gia và tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế với nhau cũng đã được thông qua, nhưng chưa có hiệu lực. Với vị trí độc nhất như thế, Công ước Viên có thể được xem là bộ phận quan trọng của toàn bộ luật điều ước quốc tế.

Tuy nhiên, Công ước Viên chỉ là một bộ phận của ngành luật điều ước quốc tế. Luật điều ước quốc tế còn được ghi nhận trong tập quán quốc tế, và bộ phận quy định trong tập quán quốc tế còn nhiều và rộng hơn so với Công ước Viên. Tập quán quốc tế về luật điều ước quốc tế không chỉ bao gồm các quy định trong Công ước Viên mà còn bao gồm các quy định điều chỉnh quan hệ điều ước giữa các chủ thể khác của luật quốc tế. Do Công ước Viên chỉ điều chỉnh hạn hẹp quan hệ điều ước giữa quốc gia và quốc gia, điều ước quốc tế bằng văn bản và điều ước quốc tế ký kết sau ngày Công ước có hiệu lực;[13] các điều ước quốc tế khác sẽ được điều chỉnh theo quy định tập quán quốc tế. Ví dụ như điều ước quốc tế giữa tổ chức quốc tế và quốc gia, giữa tổ chức quốc tế và tổ chức quốc tế, điều ước quốc tế phi-văn bản, và các điều ước ký kết trước ngày 27 tháng 01 năm 1980. Lời nói đầu của Công ước Viên đã khẳng định rõ rằng: “Xác nhận rằng các quy định của luật tập quán quốc tế sẽ tiếp tục điều chỉnh các vấn đề không được quy định bởi các điều khoản của Công ước này.” Điều 3(a) của Công ước khẳng định CÔng ước không ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của các điều ước quốc tế giữa các chủ thể khác của luật quốc tế và điều ước quốc tế phi-văn bản. Tóm lại, luật điều ước quốc tế là tập hợp các quy định điều chỉnh quan hệ điều ước giữa các chủ thể của luật pháp quốc tế mà một bộ phận quan trọng của các quy định này được ghi nhận trong Công ước Viên.

4. Chủ thể của Công ước Viên ?

Công ước Viên là điều ước quốc tế duy nhất hiện nay điều chỉnh quan hệ điều ước giữa các quốc gia. Về chủ thể chịu sự điều chỉnh của Công ước bao gồm:

Các quốc gia: quốc gia là chủ thể cơ bản của luật quốc tế và việc tham gia ký kết điều ước quốc tế là một hoạt động sinh hoạt quốc tế quan trọng của quốc gia. Trong những trường hợp đặc biệt, quốc gia có thể ủy quyền cho quốc gia khác hay một tổ chức quốc tế khác thực hiện thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế thay mình.

Các tổ chức quốc tế liên chính phủ: đây là chủ thể đặc biệt của luật quốc tế. Tổ chức quốc tế có thể ký kết các điều ước quốc tế với các quốc gia, kể cả với quốc gia trong và ngoài thành viên tổ chức đó.

Các thực thể khác của luật quốc tế: dù Công ước Viên năm 1969 và Công ước Viên năm 1986 về luật điều ước quốc tế không đề cập các thực thể như các dân tộc đang đấu tranh nhằm thực hiện quyền tự quyết dân tộc, các vùng lãnh thổ như Hồng Kông, Ma Cao, Tòa thánh Vaticăng,… nhưng thực tế, các thực thể này cũng tham gia rộng rãi và tích cực vào nhiều mặt của đời sống quốc tế, kể cả ký kết các điều ước.

5. Nội dung của Công ước?

Công ước Viên quy định toàn diện các khía cạnh liên quan đến luật điều ước quốc tế, bao gồm các quy định bao quát “vòng đời” của một điều ước quốc tế: ký kết – thực thi – hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước quốc tế. Công ước đặt ra các quy định để xác lập một cách hợp pháp một điều ước quốc tế, từ quyền năng ký kết điều ước của quốc gia, về người đại diện quốc gia, về các bước ký kết điều ước quốc tế, về bảo lưu điều ước quốc tế và về vô hiệu điều ước quốc tế. Sau khi xác lập thành công một điều ước quốc tế, Công ước có các quy định chi tiết về quá trình thực thi điều ước quốc tế từ thời điểm và cách thức có hiệu lực, về hiệu lực của điều ước, về nguyên tắc pacta sunt servanda, về giải thích điều ước quốc tế. Công ước cũng đặt ra các quy định về cách thức hợp pháp để hủy bỏ, đình chỉ thi hành một điều ước quốc tế.

Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế là hai nguồn chính yếu của luật pháp quốc tế nói chung. Không hiếm khi có các quy định của luật quốc tế vừa là quy định điều ước vừa là quy định tập quán quốc tế, ví dụ như nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực. Trong lĩnh vực điều ước quốc tế, hiện tượng như thế tồn tại khá phổ biến.

Một bộ phận đáng kể các quy định của Công ước Viên đều được xem là phản ánh quy định tập quán quốc tế. Các quy định còn lại có thể xem là cơ sở để của các quy định tập quán đang hình thành. Trên thực tế, sẽ không ngạc nhiên khi xem xét một vụ việc liên quan đến vấn đề điều ước quốc tế, các tòa án quốc tế và quốc gia sẽ sử dụng Công ước như điểm bắt đầu hoặc thậm chí áp dụng ngay quy định của Công ước như quy định tập quán. Một thực tế là cho đến hiện nay Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) đã xem xét và áp dụng quy định của Công ước trong nhiều vụ việc và chưa một lần nào bác bỏ giá trị tập quán của Công ước. Tóm lại, có thể nói rằng hầu hết các quy định quan trọng của Công ước đều phản án quy định tập quán quốc tế.

Từ việc Công ước cũng phản ánh các quy định tập quán tồn tại song song, có hai điểm có thể rút ra.

Thứ nhất, đây có thể là lý do mà một số các quốc gia không gia nhập Công ước. Nếu Công ước đã phản ánh quy định tập quán, và quy định tập quán ràng buộc tất cả các quốc gia thì việc gia nhập hay không gia nhập Công ước về bản chất là không khác nhau.

Thứ hai, việc các quốc gia không gia nhập Công ước sẽ không là rào cản pháp lý quá lớn để một quốc gia là thành viên Công ước viện dẫn và áp dụng Công ước trong quan hệ với quốc gia không là thành viên.

Cho đến hiện nay, thông qua các vụ việc mà các cơ quan tài phán đã xét xử, hàng loạt các quy định của Công ước đã được xác nhận là phản ánh quy định của tập quán quốc tế. Việc sử dụng các quy định này trong quan hệ điều ước giữa tất cả các quốc gia là thành viên và không là thành viên Công ước là không thể tranh cãi. Các quy định đó bao gồm quy định về giải thích điều ước quốc tế, vô hiệu điều ước do đe dọa hay sử dụng vũ lực, về hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước do vi phạm nghiêm trọng, không có khả năng thực hiện điều ước, hay do sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)