Căn cứ pháp lý căn cứ Pháp lệnh ngày 2/11/1945 của CH Pháp và Nghị định số 19/12/1945 của CH Pháp có thể phân tích chi tiết như sau:

 

1. Khái quát chung về hoạt động công chứng trên thế giới

Trên thế giới có ba hệ thống công chứng chính sau đây:

1) Hệ thống công chứng La tinh tương ứng với hệ thống Luật La Mã (Civil Law): Hệ thống công chứng La tinh hiện tại được áp dụng ở khoảng 86 quốc gia, trong đó chủ yếu các nước ở châu Âu (22/28 quốc gia châu Âu). Việt Nam hiện tại cũng nằm trong nhóm thuộc hệ thống công chứng La tinh. Việt Nam nằm trong Liên minh công chứng quốc tế (U.I.N.L) từ năm 2013. Liên minh công chứng quốc tế là một tổ chức phi lợi nhuận, được thành lập năm 1948, hiện tại có 88 nước thành viên tính đến ngày 2/10/2018. 

2) Hệ thống công chứng Ănglo Saxon tương ứng với hệ thống pháp luật Common Law. Hệ thống công chứng này có ở các nước như: Vương quốc Anh, Hoa Kỳ…

3) Hệ thống công chứng tập thể (Collectiviste) tương ứng với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa (Sovietique): Mô hình công chứng tập thể là trường phái phát triển mạnh vào những năm 70 của thế kỷ XX đến trước những năm 1990 ở Liên Xô và các nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đây. Ở hệ thống công chứng này, công chứng chưa được coi là một nghề. Công chứng được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước. Công chứng viên không có chứng chỉ hành nghề, không phải chịu trách nhiệm dân sự trước khách hàng mà chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính trước nhà nước về những sai phạm của mình. Trong những năm gần đây, các nước theo mô hình công chứng này có xu hướng từng bước chuyển sang nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc những yếu tố hợp lý của hai mô hình công chứng nội dung hoặc công chứng hình thức để chuyển đổi mô hình.      

 

2. Khái quát về công chứng ở CH Pháp

Công chứng ở Pháp thuộc trường phái công chứng La tinh thuộc hệ thống công chứng La tinh. Tính đến 31/7/2019, ở Pháp có tổng cộng 14.210 công chứng viên với hơn một nửa công chứng viên là nữ (7.037 nữ công chứng viên); độ tuổi trung bình của công chứng viên ở Pháp là 47. Mỗi năm ở Pháp, các công chứng viên tư vấn cho khoảng 20 triệu người với tổng doanh thu khoảng 8 tỷ Euro. Trung bình trong một năm, các công chứng viên soạn thảo và xác nhận khoảng 4 triệu văn bản, và hơn 320.000 chúc thư.

 

3. Địa vị pháp lý của công chứng viên ở Pháp

Địa vị pháp lý của công chứng viên ở Pháp được quy định như sau: “Công chứng viên là công chức nhà nước được bổ nhiệm nhằm tiếp nhận văn bản, hợp đồng mà các bên phải hoặc muốn công nhận tính xác thực gắn liền với sự chứng nhận của cơ quan công quyền…”. Ở Pháp, công chứng viên là những người được Nhà nước ủy quyền, do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công thông qua hoạt động chứng nhận hành vi và hợp đồng mà các bên phải hoặc muốn chứng nhận tính xác thực. Công chứng viên chứng nhận thời gian, nội dung cũng như giá trị tài sản bằng cách sử dụng con dấu và chữ ký của mình. Mặc dù được trao quyền bởi cơ quan nhà nước nhưng công chứng viên phải tự trang trải chi phí để duy trì hoạt động của mình. Biểu lệ phí công chứng được pháp luật về công chứng Pháp quy định khá rõ ràng. Vì vậy, khách hàng được đảm bảo chỉ phải trả một khoản thù lao có thể dự đoán trước được và minh bạch. Theo đó, tổng chi phí phải trả cho công chứng viên bao gồm: 8/10 là thuế nộp cho Nhà nước và chính quyền địa phương; 1/10 là các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình thực hiện việc công chứng và 1/10 là thù lao dành cho công chứng viên. 

Ở Pháp, để trở thành công chứng viên, ứng viên phải có bằng thạc sĩ chuyên ngành luật và 02 năm đào tạo về thực hành công chứng. Hội đồng cấp cao công chứng viên Pháp (CSN) là tổ chức nghề công chứng, được thành lập ngày 11/2/1945. Hội đồng này được trao quyền thay mặt cho các công chứng viên. Hội đồng cấp cao là cơ quan ở cấp trung ương. Ngoài ra, có 72 Phòng công chứng thuộc khu hành chính đại diện cho các công chứng viên trong cùng khu hành chính. Các Phòng công chứng cấp khu hành chính tập hợp thành 33 Hội đồng công chứng cấp vùng. CSN gồm có các đại biểu được bầu 4 năm một lần bởi thành viên của Hội đồng khu vực và các công chứng viên của các phòng công chứng trong khu vực. Các đại biểu sẽ lần lượt được gia hạn một nửa sau 2 năm. Đại hội đồng CSN gồm 7 thành viên do các thành viên của CSN bầu ra theo nhiệm kỳ 2 năm.

 

3.1 Nghĩa vụ công chứng viên ở Pháp?

Trong xã hội Pháp, chức năng tư vấn của công chứng viên đã có bước phát triển rất mạnh mẽ. Hoạt động tư vấn của công chứng viên đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người dân trong mọi lĩnh vực (hôn nhân gia đình, thương mại, bất động sản hay trong quản lý tài sản…). Công chứng viên có nghĩa vụ tư vấn cho mọi khách hàng, không phân biệt trình độ hiểu biết; đưa ra những lời tư vấn phù hợp với quy định của pháp luật, nhưng đồng thời cũng có lợi nhất cho khách hàng. Công chứng viên phải giải thích để các bên hiểu rõ tính chất của thỏa thuận, những hệ quả của thỏa thuận mà họ ký kết với nhau trước khi công chứng, đồng thời cũng phải giúp khách hàng thực hiện thỏa thuận đó.

 

3.2 Thẩm quyền bổ nhiệm công chứng viên ở Pháp?

Ở Pháp, công chứng viên là các công chức được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, vì thế công chứng viên được trao cho công quyền. Là một nhà chuyên môn hoạt động trong mọi lĩnh vực pháp luật, công chứng viên là một luật gia đầy đủ, không đơn thuần là người soạn thảo văn bản mà còn là người làm nhiệm vụ công chứng, chứng thực, người tư vấn pháp luật và người thu thuế cho nhà nước. Ngoài ra, công chứng viên còn có thể thực hiện một số nhiệm vụ khác do khách hàng hoặc các cơ quan xét xử yêu cầu. Công chứng viên là người hợp thức hóa thỏa thuận của các bên và có thẩm quyền đóng con dấu xác thực vào toàn bộ các văn bản mà mình tiếp nhận. Công chứng viên cũng bảo đảm lưu giữ toàn bộ các dự thảo văn bản. Ngoài chức năng xác thực tính hợp lệ và bảo đảm an toàn cho các văn bản nói trên, các công chứng viên còn có thể can thiệp với phạm vi rộng hơn; họ là các chuyên gia về pháp luật tổng quát với một tầm nhìn tổng thể về các vấn đề pháp lý. Họ có thể can thiệp vào khuôn khổ pháp lý nói chung và khuôn khổ pháp lý về thuế, điều đó khiến họ trở nên đặc biệt hiệu quả trong việc tư vấn cho khách hàng của mình.

 

4. Tổ chức công chứng ở Pháp

Tổ chức Hiệp hội công chứng Pháp được điều chỉnh bởi Pháp lệnh ngày 2/11/1945 và Nghị định số 19/12/1945. Những văn bản này đến nay vẫn có hiệu lực. Hiện nay trên toàn lãnh thổ của Pháp có 80 Hội đồng công chứng Tỉnh và Liên tỉnh, 33 Hội đồng công chứng Vùng và 1 Hội đồng Công chứng tối cao.

 

4.1. Hội đồng công chứng tỉnh, Hội đồng công chứng liên tỉnh.

Mỗi tỉnh thành lập một Hội đồng công chứng Tỉnh trên cơ sở thẩm quyền lãnh thổ của Toà án. Mỗi địa hạt của Toà án sơ thẩm sẽ có một Hội đồng công chứng tỉnh. Hội đồng công chứng liên tỉnh thành lập gồm ít nhất từ 2 tỉnh trở lên, ví dụ như Hội đồng công chứng liên tỉnh de Savoie et de Haute – Savoie.

Hội đồng công chứng tỉnh có nguồn tài chính do các Văn phòng công chứng đóng góp trên cơ sở doanh thu của mỗi Văn phòng công chứng.

Hội đồng này có những chức năng sau:

– Xây dựng quy tắc hành nghề công chứng trong phạm vi tỉnh điều chỉnh về quan hệ giữa công chứng viên với khách hàng, quan hệ giữa các công chứng viên với nhau. Quy tắc này phải được Bộ trưởng Bộ Tư pháp để phê duyệt;

– Giải quyết tất cả mâu thuẫn, tranh chấp về nghề nghiệp giữa các công chứng viên trong tỉnh bằng hình thức hoà giải, trong trường hợp hoà giải không thành, ra các quyết định kỷ luật, các quyết định này có hiệu lực thi hành ngay;

– Xem xét giải quyết khiếu kiện công chứng viên trong quá trình hành nghề;

– Kiểm tra sổ sách kế toán của văn phòng công chứng, về tổ chức và hoạt động của các văn phòng công chứng trong tỉnh;

– Cho ý kiến tham vấn về các vấn đề kiện công chứng viên đòi bồi thường thiệt hại do lỗi của công chứng viên gây ra;

– Lưu trữ các bản gốc của các văn phòng công chứng bị xoá bỏ;

– Chuẩn bị nguồn ngân sách, theo dõi và yêu cầu thanh toán các khoản đóng góp của công chứng viên;

– Tuyển và đào tạo nghề cho thư ký và nhân viên văn phòng công chứng, quản lý theo dõi điều kiện làm việc trong các văn phòng; các vấn đề về tiền lương và phụ cấp phù hợp với quy định cùa pháp luật.

Như vậy, Hội đồng công chứng Tỉnh và liên Tỉnh giữ vai trò quan trọng trong việc quản lý các công chứng viên trong phạm vi lãnh thổ của địa phương mình.

 

4.2. Hội đồng công chứng Vùng

Hội đồng công chứng Vùng được thành lập theo thẩm quyền lãnh thổ của Toà phúc thẩm bao gồm một số Hội đồng công chứng Tỉnh và Liên tỉnh. Hội đồng công chứng Vùng gồm các đại diện của Hội đồng công chứng Tỉnh. Số lượng đại diện của các hội đồng tỉnh tỉ lệ thuận với số lượng công chứng viên có trong từng Hội đồng Tỉnh. Mỗi Hội đồng Vùng phải có ít nhất là 7 uỷ viên, Các uỷ viên này có nhiệm kỳ là 4 năm.

Hội đồng công chứng Vùng là cơ quan đại diện của công chứng viên trước các cơ quan quyền lực chính trị và tư pháp ở địa phương có những chức năng sau:

– Hội đồng công chứng Vùng hoà giải các mẫu thuẫn nghề nghiệp giữa các Hội đồng công chứng Tỉnh hoặc mâu thuẫn giữa các công chứng viên thuộc các Hội đồng công chứng Tỉnh khác nhau. Trong trường hợp hoà giải không thành, Hội đồng công chứng Vùng đưa ra các hình thức kỷ luật. Các quyết định của Hội đồng có hiệu lực thi hành ngay.

– Cho ý kiến tham vấn đối với các Quy tắc hành nghề của các Hội đồng Tỉnh.

– Tham gia vào Uỷ ban kiểm tra đầu vào các ứng viên hành nghề công chứng;

– Tham gia vào Hội đồng quản trị Quỹ bảo hiểm hành nghề công chứng Vùng;

– Tham gia vào Hội đồng công chứng tối cao;

– Tham gia vào Uỷ ban kiểm tra kế toán các công chứng viên;

– Lập ngân sách Hội đồng công chứng Vùng thông qua việc phân bổ các nghĩa vụ  tài chính cho Hội đồng công chứng Tỉnh trên địa bàn quản lý;

– Thi hành các quyết định của Hội đồng Công chứng tối cao.

 

4.3. Hội đồng Công chứng tối cao

Hội đồng công chứng tối cao bao gồm các uỷ viên do các Hội đồng công chứng Vùng bầu. Về nguyên tắc mỗi Hội đồng Vùng được bầu 01 uỷ viên. Tuy nhiên đối với những Hội đồng Vùng lớn như Hội đồng Paris có thể có 2 uỷ viên đại diện để tham gia Hội đồng công chứng tối cao. Các uỷ viên Hội đồng tối cao được bầu với nhiệm kỳ là 4 năm. Cứ 2 năm một nửa số thành viên của Hội đồng tối cao lại được bầu lại. Các Chủ tịch và phó Chủ tịch có nhiệm kỳ là 2 năm và có thể được bầu lại

Cũng như các uỷ viên của Hội đồng công chứng Tỉnh và Hội đồng Vùng, hoạt động của các uỷ viên Hội đồng tối cao mang tính tự nguyện không được trả lương. Tuy nhiên họ được hưởng phí công tác trong khuôn khổ kế hoạch các chuyến công tác đã được duyệt của Hội đồng Tối cao. Ngoại lệ, họ có thể được hưởng một khoản tiền trong khuôn khổ quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp trên cơ sở đề nghị của đa số thành viên Hội đồng  công chứng tối cao.

Về chức năng, Hội đồng công chứng tối cao có nhiều chức năng quan trọng trong nội bộ nghề công chứng và đối với các cơ quan quyền lực Nhà nước. Là tổ chức duy nhất đại diện cho tất cả các công chứng viên tại Pháp Hội đồng công chứng tối cao đề ra những chính sách phát triển chung của nghề công chứng quản lý nghề công chứng và đưa ra ý kiến tham vấn cho Nghị viện, Chính phủ trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật (Dự thảo luật, Văn bản pháp quy). Tham vấn cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp về các vấn đề liên quan đến nghề công chứng. Đưa ra chính sách chung về tổ chức các trường đào tạo công chứng viên, về nhân sự văn phòng công chứng, tuyển dụng công chứng viên, đào tạo đội ngũ thư ký và nhân viên các văn phòng công chứng; về công chứng viên tập sự, quy định điều kiện làm việc tại văn phòng công chứng, thực hiện bảo hiểm trách nhiệm dân sự nghề nghiệp công chứng cho các công chứng viên,  lương, thù lao khác của  công chứng viên theo quy định của pháp luật.

Hội đồng Tối cao xây dựng Quy tắc hành nghề công chứng quốc gia. Quy tắc này phải được Hội đồng toàn thể Hội đồng công chứng Tối cao thông qua và phải được Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt. Các quy tắc hành nghề của Hội đồng Tỉnh không được trái với Quy tắc hành nghề quốc gia.

Hội đồng này cảnh báo và giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng nghề nghiệp giữa các Hội đồng Tỉnh hoặc bất đồng giữa các công chứng viên thuộc các Hội đồng Vùng khác nhau. Khi có mẫu thuẫn xảy ra Hội đồng sẽ tiến hành hoà giải, trong trường hợp hoà giải không thành, Hội đồng đưa ra quyết định chính thức, quyết định này có hiệu lực thi hành ngay.

Nguồn tài chính của Hội đồng tối cao là do đóng góp của các Hội đồng công chứng Vùng trên toàn lãnh thổ Pháp theo sự phân bổ của Hội đồng này.

Như vậy, công chứng Pháp được tổ chức  hệ thống chặt chẽ khoa học từ  trung ương đến địa phương. Hệ thống Hội đồng công chứng đã giúp Nhà nước Pháp quản lý tốt về số lượng và chất lượng đội ngũ công chứng viên và văn phòng công chứng khá lớn (Theo thống kê của Pháp, tính đến ngày 1/7/2010 có 9002 công chứng viên  làm việc tại 4534 văn phòng công chứng trên khắp lãnh thổ của nước Pháp[4]), đảm bảo an toàn cho các giao dịch pháp lý trong các lĩnh vực dân sự, đất đai…Do vậy đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế Pháp thông qua việc phối hợp với cơ quan đăng ký đất đai để thu thuế cho Nhà nước.

 

5. Pháp luật về thành lập các Hội công chứng viên ở Việt Nam

Việc thành lập các Hội công chứng ở Việt Nam hiện nay căn cứ theo Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ. Theo Nghị định này, muốn thành lập Hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh thì phải có ít nhất năm mươi công dân, tổ chức trong tỉnh có đủ điều kiện tham gia, trong phạm vi liên tỉnh phải có 100 công dân, tổ chức đủ điều kiện tham gia. Như vậy đối với những tỉnh chưa có đủ 50 công chứng viên thì sẽ có khó khăn để thành lập hội theo Nghị định này. Luật công chứng năm 2006 chưa có quy định đáp ứng nhu cầu thành lập và hoạt động của Hội công chứng, chúng tôi cho rằng trong thời gian tới khi sửa đổi Luật này, nên có quy định  điều chỉnh việc thành lập Hội công chứng ở địa phương và Trung ương để ở địa phương thì có Hội công chứng Tỉnh và trung ương có Hội công chứng toàn quốc, tạo môi trường tự quản chung cho các công chứng viên hành nghề phù hợp với pháp luật, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm chuyên môn, hạn chế rủi ro nghề nghiệp cho công chứng viên. Đồng thời, Hội cũng giúp nhà nước quản lý công chứng viên hành nghề, tạo an toàn pháp lý cho công chứng viên và người dân.