- 1. Khái quát về Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga
- 2. Lịch sử của Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga
- 3. Cơ cấu, tổ chức Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga
- 4. Quyền hạn của Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga
- 5. Thẩm phán Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga
- 5.1. Điều kiện, quy trình bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án Hiến pháp
- 5.2. Nhiệm kỳ của Thẩm phán Tòa án Hiến pháp
- 5.3. Điều kiện về tính bất khả kiêm nhiệm của Thẩm phán
- 6. Hiệu lực pháp lý của quyết định của Tòa án Hiến pháp
Căn cứ pháp lý:
- Hiến pháp Liên bang Nga ngày 21/7/1994;
- Luật Hiến pháp Liên bang Nga.
1. Khái quát về Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga
Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga (tiếng Nga: Конституционный Суд Российской Федерации)là cơ quan tư pháp kiểm soát Hiến pháp. Tòa án giám sát tất cả các Luật hoặc nghị định của Tổng thống, Quốc hội Liên bang.
Quyền hạn, chức năng và nhiệm vụ của Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga được xác định trong Hiến pháp Liên bang Nga và Luật Hiến pháp Liên bang "Về việc Tòa án Hiến pháp của Liên bang Nga." Tòa án Hiến pháp của Liên bang Nga gồm 19 thẩm phán do Hội đồng Liên bang Nga bổ nhiệm theo đề nghị của Tổng thống. Tòa án Hiến pháp được chia làm 2 viện, một viện có 10, một viện có 9 thẩm phán.
2. Lịch sử của Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga
Trước những năm 1980, tầm quan trọng của giám sát tư pháp tại Liên Xô chưa được coi trọng. Mãi đến ngày 25/12/1989 khi đạo luật kiểm soát Hiến pháp ra đời, bắt đầu xem xét các nghị định được coi là vi hiến do Ủy ban giám sát Hiến pháp Liên Xô đứng đầu hoạt động từ năm 1990-1991. Tháng 12/1990 Hiến pháp Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Liên bang Nga (Nga-Xô viết) được sửa đổi, thành lập Tòa án Hiến pháp (12/7/1991) được Đại hội Đại biểu Nhân dân Nga-Xô viết bầu (30/10/1991), Tòa án Hiến pháp bao gồm 13 thẩm phán.
Trong thời kỳ khủng hoảng Hiến pháp năm 1993, Tòa án Hiến pháp là bên chính tham gia cuộc khủng hoảng, giải quyết các vấn đề giữa Tổng thống Yeltsin và Xô Viết Tối cao. Do đứng về phe của Xô Viết Tối cao, Tòa án Hiến pháp bị Yeltsin đình chỉ hoạt động (7/10/1993). Sau do xung đột giữa Yeltsin và Hội đồng Liên bang về việc bổ nhiệm thẩm phán Tòa án Tối cao, Tòa án Hiến pháp mới chính thức hoạt động trở lại (2/1995).
3. Cơ cấu, tổ chức Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga
Tòa án Hiến pháp gồm 1 Chánh án, Phó Chánh án, 19 thẩm phán.
Chánh án Tòa án Tối cao được Tổng thống đề cử và Hội đồng Liên bang bổ nhiệm. Chánh án phải là thẩm phán Tòa án Hiến pháp trên 6 năm.
Chánh án và Phó Chánh án khi gần hết nhiệm kỳ có thể được bổ sung thêm 1 nhiệm kỳ nữa.
Các thẩm phán được Tổng thống đề cử và Hội đồng Liên bang thông qua trong vòng 12 năm. Để trở thành thẩm phán phải là công dân Nga, hơn 40 tuổi, đã từng học ngành luật hoặc tư pháp, có kinh nghiệm trong ngành tư pháp trên 15 năm và có chứng chỉ "trình độ chuyên môn cao".
Trong trường hợp vị trí thẩm phán bị khuyết, Tổng thống có thể chỉ định người ứng cử tại Hội đồng Liên bang.
Tòa án Hiến pháp Tối cao gồm 2 viện, một viện gồm 10, một viện gồm 9 thẩm phán. Thành viên mỗi viện bằng cách bốc thăm theo quy định của Hiến pháp. Các thẩm phán tham dự tất cả các phiên họp thường niên của Tòa án, còn tại phiên họp của các viện chỉ có thẩm phán của viện tham gia.
4. Quyền hạn của Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga
Với nhiệm vụ bảo vệ những nguyên tác cơ bản của Hiến pháp, quyền và lợi ích của người dân tác động tới Hiến pháp. Tòa án Hiến pháp có quyền hạn:
- Theo yêu cầu của Tổng thống, Quốc hội Liên bang, Chính phủ Liên bang, Tòa án Tối cao, Tòa án Trọng tài Tối cao, các cơ quan lập pháp và hành pháp của các chủ thể Liên bang xem xét, giải quyết các vụ việc liên quan tới Hiến pháp: Các quyết định, nghị định của Tổng thống, Quốc hội Liên bang, Hiến pháp các nước Cộng hòa, Điều lệ, Luật Hiến pháp và các văn bản pháp luật của các chủ thể Liên bang;
- Giải quyết các tranh chấp thẩm quyền giữa các cơ quan Chính phủ, giữa cơ quan của Chính phủ và các cơ quan của chủ thể Liên bang, giữa cơ quan Nhà nước và các cơ quan của chủ thể Liên bang;
- Giải thích Hiến pháp Liên bang;
- Theo yêu cầu của Quốc hội Liên bang đưa ra kết luận luận tội Tổng thống về tội phản quốc hay vi phạm nghiêm trọng hay không;
- Giải tán các tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan Chính phủ, giữa cơ quan của Chính phủ và các cơ quan của chủ thể Liên bang, giữa cơ quan Nhà nước và các cơ quan của chủ thể Liên bang;
- Theo khiếu nại của công dân yêu cầu tòa án, kiểm tra tính hợp hiến của các bộ luật được áp dụng trong các trường hợp cụ thể;
- Đưa ra những sáng kiến có tính chất pháp luật về những vấn đề thực hiện Hiến pháp;
- Thực hiện những quyền khác do Hiến pháp, hoặc những bộ luật khác quy định;
5. Thẩm phán Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga
5.1. Điều kiện, quy trình bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án Hiến pháp
Thẩm phán là linh hồn của bất kỳ Tòa án nào, vì họ là người quyết định trực tiếp đến việc Tòa án có hoạt động hiệu quả hay không. Vì vậy, pháp luật các nước quy định rất chặt chẽ và cụ thể với nhiều điều kiện để một cá nhân có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán của Tòa án Hiến pháp. Ở Nga, người có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án Hiến pháp phải là công dân Liên bang Nga, không dưới 40 tuổi, có uy tín cao, có trình độ học vấn pháp lý cao và có ít nhất mười lăm năm kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật. Thẩm phán Tòa án Hiến pháp do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Liên bang Nga.
Mỗi Thẩm phán của Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga được bổ nhiệm riêng bằng cách bỏ phiếu kín. Khi được bổ nhiệm, Thẩm phán của Tòa án Hiến pháp phải tuyên thệ với nội dung sau: “Tôi thề sẽ thực hiện một cách trung thực và tận tâm các nhiệm vụ của một Thẩm phán Tòa án Hiến pháp, trong khi chỉ tuân theo Hiến pháp Liên bang Nga, không ai hay điều gì khác”[1].
5.2. Nhiệm kỳ của Thẩm phán Tòa án Hiến pháp
Thông thường, pháp luật của các nước có Tòa án Hiến pháp đều quy định nhiệm kỳ của Thẩm phán (Pháp quy định nhiệm kỳ của Thẩm phán là 09 năm, Đức quy định nhiệm kỳ của Thẩm phán là 12 năm, Thái Lan quy định nhiệm kỳ của Thẩm phán là 09 năm) và số nhiệm kỳ tối đa mà một Thẩm phán có thể được bổ nhiệm. Hiến pháp Áo quy định: các Thẩm phán của Tòa án Hiến pháp khi được bổ nhiệm sẽ làm việc đến hết ngày 31/12 năm họ tròn 70 tuổi, làm việc độc lập và không thể bị cách chức, trừ trường hợp đặc biệt.
Ở Nga, quy định về nhiệm kỳ của Thẩm phán Tòa án Hiến pháp nhiều lần được thay đổi. Luật về Tòa án Hiến pháp năm 1994 ban đầu quy định nhiệm kỳ 12 năm với độ tuổi giới hạn là 70. Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, từ năm 2005 tới nay Luật quy định thẩm quyền của Thẩm phán không bị giới hạn bởi nhiệm kì, độ tuổi giới hạn của Thẩm phán Tòa án Hiến pháp là 70 tuổi. Thẩm quyền của Thẩm phán kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng mà Thẩm phán tròn 70 tuổi. Thẩm phán đã đạt đến độ tuổi giới hạn sẽ tiếp tục làm việc cho đến khi có phán quyết cuối cùng về vụ việc mà Thẩm phán tham gia. Chánh án Tòa án Hiến pháp không bị giới hạn về độ tuổi tối đa, độ tuổi giới hạn của Phó Chánh án là 76 tuổi. Nhiệm kỳ của Chánh án và Phó Chánh án là 06 năm, sau khi hết nhiệm kỳ có thể được tái bổ nhiệm[2].
5.3. Điều kiện về tính bất khả kiêm nhiệm của Thẩm phán
Để đảm bảo tính độc lập và chỉ tuân theo Hiến pháp, pháp luật của các nước có Tòa án Hiến pháp như Áo, Italia, Hàn Quốc, Thái Lan,… đều quy định tính bất khả kiêm nhiệm của Thẩm phán Tòa án Hiến pháp.
Ở Nga, Thẩm phán Tòa án Hiến pháp không thể là thành viên của Hội đồng Liên bang, Đại biểu của Duma Quốc gia, các cơ quan đại diện khác, giữ các chức vụ khác; không thể tham gia vào hoạt động kinh doanh, hoạt động được trả lương khác, ngoại trừ giảng dạy, khoa học và các hoạt động sáng tạo khác. Việc thực hiện các công việc đó không được cản trở việc hoàn thành nghĩa vụ của một Thẩm phán Tòa án Hiến pháp và không thể là lý do chính đáng cho sự vắng mặt tại cuộc họp, nếu không có sự đồng ý của Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga.
Thẩm phán của Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga cũng không được tham gia vào các đảng phái và phong trào chính trị, hỗ trợ họ về tài chính,… Thẩm phán cũng không thể là thành viên ban lãnh đạo của bất kỳ hiệp hội nào, ngay cả khi họ không theo đuổi các mục tiêu chính trị.
Trên báo, các phương tiện thông tin đại chúng khác, Thẩm phán của Tòa án Hiến pháp sẽ không được phép công khai bày tỏ ý kiến của mình về một vấn đề có thể trở thành chủ đề được xem xét tại Tòa án Hiến pháp, cũng như đang được nghiên cứu hoặc chấp nhận để xem xét bởi Tòa án Hiến pháp trước khi thông qua quyết định về vấn đề đó.
Luật về Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga cũng nhấn mạnh rằng, những quy định trên không thể được coi là hạn chế quyền của Thẩm phán Tòa án Hiến pháp tự do thể hiện ý chí của mình như một công dân và cử tri bằng cách bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý.
6. Hiệu lực pháp lý của quyết định của Tòa án Hiến pháp
Phán quyết của Tòa án Hiến pháp có giá trị chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc. Quyết định của Tòa án Hiến pháp có hiệu lực trực tiếp và không cần sự xác nhận của bất cứ cơ quan và cá nhân nào. Đây là quyết định cuối cùng và không bị kháng cáo. Quyết định được thông qua sau khi xét xử sẽ có hiệu lực ngay sau khi tuyên bố. Quyết định được thông qua mà không qua xét xử sẽ có hiệu lực kể từ ngày được công bố theo quy định. Các quyết định khác của Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga sẽ có hiệu lực vào ngày thông qua.
Văn bản quy phạm pháp luật hoặc các điều khoản của chúng bị công nhận là vi hiến sẽ bị mất hiệu lực; các điều ước quốc tế của Liên bang Nga chưa có hiệu lực mà bị công nhận là không tuân thủ Hiến pháp Liên bang Nga sẽ không có hiệu lực và không được áp dụng. Các quyết định của Tòa án và các cơ quan khác dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật hoặc các điều khoản của chúng bị công nhận là vi hiến sẽ không có hiệu lực thi hành và phải được xem xét lại theo trình tự luật định. Trước khi thông qua đạo luật mới, Hiến pháp Liên bang Nga được áp dụng trực tiếp[3].
Là một cơ quan được thành lập theo quy định của Hiến pháp, với vị trí là một cơ quan chuyên trách, hoạt động trên nguyên tắc công khai, độc lập, Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga có nhiệm vụ trọng tâm là bảo vệ hiệu lực trực tiếp của Hiến pháp trên toàn lãnh thổ Liên bang Nga. Thông qua nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của mình, Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga đã thể hiện được vai trò giữ thế ổn định và cân bằng quyền lực trong toàn hệ thống chính trị; đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và tạo sự thống nhất trong toàn hệ thống pháp luật và trong hoạt động của các cơ quan nhà nước
Ghi chú:
1. Điều 10 Luật Hiến pháp Liên bang về Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga.
2. Điều 12 Luật Hiến pháp Liên bang về Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga.
3. Điều 79 Luật Hiến pháp Liên bang về Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga.
Tài liệu tham khảo:
1. Tòa án Hiến pháp Liên bang Nga; ThS. Chí Thị Nhung (Vụ Giám đốc kiểm tra II - TANDTC);
2. Tòa án Hiến pháp Nga; Bách khoa toàn thư mở Wikipedia;
3. Nguyễn Hoàng Anh. (Năm 2013). Mô hình Tòa án Hiến pháp của một số nước trên thế giới và vấn đề xây dựng Tòa án Hiến pháp ở Việt Nam (Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội).