1. Khái quát về kỳ họp nghị viện

Trên thế giới, thiết chế nghị viện được thành lập cùng với sự ra đời của chính thể nhà nước cộng hòa, nhằm mục đích hạn chế quyền lực vô hạn của nhà Vua thông qua việc ban hành Hiến pháp và các đạo luật. Thông qua bầu cử trực tiếp hay gián tiếp, thiết chế nghị viện hình thành các cơ quan nhà nước. Quyền lực nhân dân với tư cách là cội nguồn của quyền lực nhà nước được công khai thừa nhận với sự xuất hiện của thể chế nghị viện. Mỗi công dân đến độ tuổi nhất định đều có một quyền chính trị quan trọng - đó là bầu ra những người đại diện cho mình, thay mặt mình để bàn bạc, quyết định công việc của nhà nước. Những người đại diện này thay mặt nhân dân giải quyết các công việc của nhà nước. Đó chính là các nghị sĩ hoặc đại biểu Quốc hội tùy theo cách gọi của từng nước.   

    Cơ quan của những người đại diện được nhân dân trực tiếp bầu ra, tùy theo từng nước có tên gọi khác nhau, nhưng được gọi chung là Nghị viện. Khi mới xuất hiện, Nghị viện thực sự có ưu thế hơn hẳn các cơ quan nhà nước khác. Mặc dù phải chia sẻ quyền lực nhà nước với giai cấp phong kiến, nhưng Nghị viện - cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu ra vẫn có những quyền lực đặc biệt so với các cơ quan nhà nước khác.

    Nghị viện của các nước nói chung thường có thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia, liên quan đến lợi ích của toàn dân. Kỳ họp là hình thức hoạt động cơ bản của Nghị viện. Tại kỳ họp, với sự có mặt đa số các thành viên tham gia tranh luận và bỏ phiếu, Nghị viện mới thông qua được quyết định chính thức của mình. Quốc hội nước ta cũng không phải là ngoại lệ, các hoạt động khác của Ủy ban, Hội đồng, các đoàn, tổ đại biểu Quốc hội chỉ có ý nghĩa chuẩn bị để Quốc hội thực hiện chính xác và hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

 Chính tại kỳ họp, quyền lực của Quốc hội mới được thể hiện một cách rõ nét và đầy đủ nhất. Mọi vấn đề quan trọng nhất của đất nước thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội theo quy định Hiến pháp chỉ được Quốc hội thảo luận và chính thức quyết định tại các kỳ họp. Ở kỳ họp, Quốc hội thông qua các đạo Luật, các Nghị quyết, phê chuẩn việc thành lập các cơ quan nhà nước Trung ương, xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng trong công cuộc xây dựng kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, đối ngoại, củng cố quốc phòng và an ninh quốc gia.

    Theo quy định của từng nước, các kỳ họp/phiên họp của Nghị viện có thể được tổ chức từ một đến bốn lần trong một năm. Ở các nước phát triển, nơi hình thành các mô hình tổ chức nhà nước dân chủ, Quốc hội họp thường xuyên. Thời gian để tiến hành các phiên họp toàn thể hàng năm tổng cộng không quá 170 ngày trong một năm. Ở Cộng hòa Áo, trước năm 1982, Hạ viện mỗi năm họp 2 lần được tổ chức vào mùa xuân và mùa thu, mỗi lần từ 3 đến 4 tháng; từ năm 1982 đến nay Hạ viện Áo chỉ tổ chức họp các phiên họp toàn thể bắt đầu từ 15-9 đến chậm nhất là 15-7 năm sau. Chính vì hoạt động thường xuyên này mà đại biểu Nghị viện trở thành những đại biểu chuyên nghiệp. Ngoài kỳ họp thường kỳ nêu trên, Nghị viện các nước còn tiến hành các kỳ họp bất thường, theo sáng kiến của Chủ tịch Viện (Ý, Hy Lạp), Nguyên thủ quốc gia (Pháp, Bỉ), Chính phủ (Pháp, Bỉ, Nhật) và có thể theo sáng kiến của ít nhất 1/3 tổng số nghị sĩ (Ý); của quá bán tổng số đại biểu (Pháp). Trong trường hợp Nghị viện có cấu trúc hai Viện, nếu một Viện triệu tập kỳ họp bất thường, thì Viện thứ hai cũng phải triệu tập.

2. Các kiến nghị trong quá trình thảo luận

Các kiến nghị là công cụ cơ bản để các nghị sĩ đưa vấn đề mình quan tâm ra trước phiên họp để Nghị viện xem xét. Ở những nước có truyền thống Nghị viện lâu đời, việc hiểu biết và sử dụng thành thạo các kiến nghị là yếu tố quan trọng hàng đầu của các nghị sĩ khi tham gia các phiên thảo luận.

- Các tính chất cần lưu ý về các kiến nghị trong thảo luận tại Nghị viện

Thứ bậc

Có những kiến nghị được ưu tiên hơn so với các kiến nghị khác

Tình huống

Mỗi loại kiến nghị được áp dụng đối với mỗi tình huống cụ thể

Thời điểm

Mỗi loại kiến nghị được sử dụng vào những thời điểm khác nhau

Ủng hộ

Một số kiến nghị cần phải được một số lượng nghị sĩ ủng hộ nhất định mới được đưa ra xem xét

Được thảo luận

Một số có thể được tiến hành thảo luận, một số khác thì không

Có thể sửa đổi

Một số kiến nghị có thể được sửa đổi, một số khác thì không

Biểu quyết

Các kiến nghị khác nhau có thể cần số lượng người biểu quyết thông qua khác nhau

Xem xét lại

Một số kiến nghị có thể được xem xét lại

Các kiến nghị có thể được phân thành nhiều loại khác nhau, theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, các kiến nghị có thể được phân thành 4 loại như sau: (1) Kiến nghị cơ bản: Mục đích của loại kiến nghị này là đưa ra một nội dung cần thảo luận tại phiên họp.

Về nguyên tắc, các kiến nghị này không được nêu khi đang có một vấn đề khác đang được Nghị viện xem xét. Ngoài ra, đi kèm theo dạng kiến nghị này thường có các kiến nghị phụ, kiến nghị được ưu tiên và kiến nghị bất ngờ.

(2) Kiến nghị phụ: Mục đích của kiến nghị này là nhằm sửa đổi, bãi bỏ hoặc thay thế kiến nghị cơ bản. Khi có kiến nghị phụ được nêu ra thì kiến nghị này phải được xem xét trước kiến nghị cơ bản. Các kiến nghị phụ có thể bao gồm:

- Kiến nghị đặt ra thêm một vấn đề vào chương trình thảo luận cần thảo luận ngay;

- Kiến nghị kết thúc thảo luận;

- Kiến nghị giới hạn hoặc mở rộng phạm vi thảo luận;

- Kiến nghị hoãn thảo luận đến một thời điểm nhất định;

- Kiến nghị chuyển vấn đề đang xem xét đến một uỷ ban;

- Kiến nghị không xem xét vấn đề.

(3) Kiến nghị đặc quyền: Các kiến nghị đặc quyền không liên quan trực tiếp đến nội dung đang được Nghị viện xem xét mà liên quan đến lịch làm việc và quyền cũng như lợi ích của các thành viên. Các kiến nghị này được ưu tiên xem xét hơn so với kiến nghị cơ bản và kiến nghị phụ và thường không cần phải thảo luận mà có thể được biểu quyết ngay. Các kiến nghị này gồm:

- Kiến nghị thực hiện theo đúng lịch làm việc – yêu cầu Nghị viện phải tuân thủ lịch làm việc;

- Kiến nghị giải tán cuộc họp – yêu cầu kết thúc phiên họp mà không đi đến một kết luận cụ thể;

- Kiến nghị giải lao – yêu cầu tạm dừng phiên họp trong một khoảng thời gian ngắn để giải lao;

- Kiến nghị đặt vấn đề về đặc quyền – yêu cầu xem xét về quyền hoặc đặc quyền của Nghị viện hoặc các thành viên ngay tức thì.

(4) Kiến nghị nhanh: Kiến nghị nhanh liên quan đến quy trình, thủ tục xem xét một kiến nghị nào đó (kiến nghị gốc). Kiến nghị nhanh phải được xem xét trước các kiến nghị gốc. Các kiến nghị nhanh thường không phải tiến hành thảo luận mà có thể được biểu quyết ngay (trừ kiến nghị kháng nghị quyết định của chủ toạ). Các kiến nghị nhanh bao gồm:

- Kiến nghị kháng nghị quyết định của chủ toạ:

- Kiến nghị đình chỉ áp dụng một quy định nào đó của quy trình, thủ tục;

- Kiến nghị nêu lên một điểm sai sót về thủ tục và yêu cầu chủ toạ phải đưa ra một quyết định để giải quyết;

- Kiến nghị rút lại kiến nghị

- cho phép thành viên rút lại kiến nghị đã nêu ra trước đó;

- Kiến nghị xem xét lại – đề nghị Nghị viện xem xét lại một kiến nghị nào đó; - Kiến nghị hướng dẫn – yêu cầu giải thích của chủ toạ về thủ tục Nghị viện tiến hành xem xét đối với một vấn đề đang được thảo luận;

- Kiến nghị có thêm thông tin – yêu cầu có thêm các thông tin tác động đến vấn đề đang được xem xét;

- Kiến nghị thay đổi hình thức biểu quyết – được nêu ra khi nghị sĩ có nghi ngờ về kết quả biểu quyết bằng tay hoặc bằng miệng;

- Kiến nghị tách nội dung vấn đề được xem xét – được nêu ra để yêu cầu tách nội dung đang được xem xét thành nhiều nội dung nhỏ khác nhau và được thảo luận vào các thời điểm khác nhau (xem thêm Phụ lục về các quy định khác liên quan đến việc nêu kiến nghị của nghị sĩ). Để nêu lên một kiến nghị trong phiên họp, các nghị sĩ cũng phải tuân theo trình tự nhất định. Trong quy trình này, tuỳ thuộc vào tính chất của các kiến nghị, các bước của quy trình có thể khác nhau. Chẳng hạn, kiến nghị nhanh có thể được nêu vào mọi thời điểm trong quá trình tiến hành phiên họp và có thể không phải thảo luận mà được Nghị viện tiến hành biểu quyết ngay.

3. Về nội dung, trình tự các vấn đề được đưa ra thảo luận

    Tại Pháp, Chính phủ có thể quyết định dự luật nào của Chính phủ hay của đại biểu Quốc hội được đưa vào chương trình kỳ họp và trình tự xem xét của các dự luật này. Quốc hội và Hội nghị các Chủ tịch không tham gia vào nội dung và trình tự trong chương trình kỳ họp. Vào đầu và giữa mỗi kỳ họp, Bộ trưởng phụ trách quan hệ với Nghị viện thông báo tới Hội nghị các Chủ tịch những nội dung Chính phủ sẽ trình Quốc hội và thời gian dự kiến tiến hành thảo luận. Thông tin này được chuyển tới các vị đại biểu Quốc hội. Thông thường, số dự luật do Chính phủ đề xuất được thông qua nhiều hơn số dự luật được các đại biểu Quốc hội đề xuất.

    Cũng có một số ngoại lệ đối với quyền xây dựng chương trình kỳ họp của Chính phủ, đó là tại phiên họp mỗi tuần, các nghị sỹ Quốc hội được ưu tiên chất vấn Chính phủ trước và Chính phủ có trách nhiệm phải trả lời các câu hỏi chất vấn đó. Có tới 3 phiên họp dành cho chất vấn (một phiên cho các câu hỏi trực tiếp và hai phiên chất vấn cho Chính phủ). Hoặc tại chương trình phiên họp riêng với các tổ chức chính trị mỗi tháng một lần, Nghị viện tiến hành một phiên họp theo nội dung được một tổ chức chính trị lựa chọn. Nội dung phiên họp có thể là các dự luật, câu hỏi chất vấn, kiến nghị hoặc thảo luận.

    Cách làm của người Anh cũng không khác cách làm của người Pháp do chương trình được một Bộ thay mặt Thủ tướng xây dựng nhưng mỗi ngày của kỳ họp cũng có thời gian dành cho các nghị sỹ Quốc hội chất vấn và đưa ra đề xuất của mình. Bộ này công bố chương trình làm việc hàng năm và chương trình này có thể được điều chỉnh trong các trường hợp đặc biệt.

    Tuy nhiên, tại một số quốc gia khác mức độ độc lập của Nghị viện dường như là cao hơn. Tại Đức, thời gian và nội dung của mỗi kỳ họp được chủ nhiệm, các phó chủ nhiệm và 23 thành viên do các tổ chức chính trị bầu chọn quyết định.

    Tại Ý, chương trình được xây dựng dựa trên đề nghị của Chính phủ và các đề xuất của các tổ chức với các nội dung dự kiến được Quốc hội xem xét cũng như trình tự và thời gian cho từng vấn đề trong chương trình làm việc. Chính phủ không có quyền áp đặt ưu tiên nội dung nào được xem xét trước.

    Khi chương trình làm việc đã được xây dựng, cơ quan xây dựng chương trình xác định điều kiện và thời gian thực hiện chương trình này qua một trình tự công việc kéo dài 3 tuần. Chính phủ chuyển khuyến nghị của mình tới Chủ tịch Quốc hội và người đứng đầu các nhóm nghị sỹ Quốc hội theo ngày mà các nội dung được đưa vào trong chương trình. Mỗi nhóm nghị sỹ Quốc hội có thể chuyển đề xuất của mình tới Chính phủ, tới Chủ tịch Quốc hội hay tới các nhóm nghị sỹ Quốc hội khác. Trình tự nội dung trong chương trình làm việc được xây dựng trên cơ sở các khuyến nghị của Chính phủ và các nhóm nghị sỹ Quốc hội.

    Trình tự nội dung trong chương trình phải được người đứng đầu các tổ chức chính trị đại diện cho ít nhất 3/4 số đại biểu Quốc hội thông qua và phải được thông báo tới Quốc hội. Tại thời điểm này thì mỗi đại biểu có thể phát biểu 2 phút và không quá 10 phút cho mỗi nhóm nghị sỹ để đưa ra các nhận xét và các nhận xét này có thể sẽ được xem xét trước khi xây dựng nội dung tiếp theo.

    Tại Pháp, Hội nghị các Chủ tịch không được phán xét chương trình làm việc hay trình tự các nội dung được ưu tiên trong chương trình. Tuy nhiên, các phiên họp này cũng là cơ hội trao đổi ý kiến và các ý kiến đóng góp này có thể dẫn tới mọi sự thay đổi từ phía Chính phủ. Trong thực tế, Bộ trưởng phụ trách quan hệ với Nghị viện xây dựng chương trình làm việc và tham vấn ý kiến của Chủ tịch Quốc hội, người đứng đầu các tổ chức chính trị và chủ nhiệm các ủy ban liên quan tới các dự luật trong chương trình làm việc. Ngoài việc xây dựng chương trình kỳ họp, Chính phủ còn có thể thay đổi chương trình này. Một thành viên của Chính phủ gửi một bức thư tới Chủ tịch Quốc hội hay thậm chí có trường hợp hiếm hoi hơn là đưa ra một tuyên bố tại phiên họp toàn thể rằng Chính phủ muốn thay đổi trình tự các vấn đề được đưa ra xem xét, thảo luận trong chương trình kỳ họp, thậm chí rút bỏ hay bổ sung thêm dự luật trong nội dung chương trình kỳ họp. Nếu như Bộ chủ quản chưa hoàn thành dự luật vào thời điểm bắt đầu diễn ra phiên họp, thì dự luật đó có thể được bổ sung trong thời gian diễn ra kỳ họp.

    Tại Hạ viện Anh, thời gian thảo luận mỗi dự luật theo các bước được xác định trước thông qua một kiến nghị được thảo luận tại Hạ viện khi kết thúc lần đọc thứ nhất. Tại điện Westminster, có một phòng thứ 2 để tổ chức các phiên họp toàn thể không tiến hành biểu quyết đối với báo cáo của các ủy ban hay chất vấn trực tiếp. Đây cũng là cách tiết kiệm thời gian cho công việc của Nghị viện.

    Tại Đức, chương trình kỳ họp gửi tới các nghị sỹ Quốc hội ở cả Hạ viện, Thượng viện và tới chính quyền liên bang. Nếu không có bất kỳ phản hồi nào, thì chương trình kỳ họp đã được thông qua. Sau phần khai mạc của phiên họp toàn thể và trước khi nội dung thứ nhất được trình bày thì bất kỳ nghị sỹ nào cũng có thể thay đổi nội dung chương trình kỳ họp miễn là kiến nghị của nghị sỹ này được trình Chủ tịch Quốc hội muộn nhất là 18 giờ của ngày trước đó.

    Hiện nay, xu hướng chung tại các Nghị viện ở Châu Âu là xây dựng khung thời gian chương trình kỳ họp và kiểm soát việc thực hiện các chương trình lập pháp. Để đạt được các mục tiêu này, các nước thường phân bổ thời gian hợp lý cho mỗi phiên thảo luận và thực hiện các công việc của ủy ban nhiều hơn, tổ chức các phiên họp toàn thể ít hơn.

4. Kỷ luật trong phiên họp

Nhằm mục đích duy trì các phiên họp của Nghị viện trong trật tự, các hành vi phá rối, hoặc làm mất tính uy nghiêm của phiên họp của các nghị sĩ hoặc các khách mời tham dự phiên họp đều bị ngăn cấm. Để thực hiện được điều này, Nội quy Nghị viện các nước có quy định những hình thức kỷ luật đối với các vi phạm trong phiên họp.

Thông thường, những hành vi bị ngăn cấm trong phiên họp là những hành vi làm ồn và cản trở hoạt động của Nghị viện trong khi các nghị sĩ đang phát biểu, hoặc trong khi các dự luật, hoặc một thủ tục đang được thực hiện, hoặc khi Chủ tịch Hạ viện đang thực hiện thủ tục điểm danh. Ngoài ra, Nội quy các Nghị viện cũng rất chú ý đến cách thức phát biểu của các nghị sĩ với quy định rằng những phát biểu của nghị sĩ không được đưa ra những lời nói hàm ý hạ thấp danh dự của Nghị viện, hoặc hàm chứa những lời nhục mạ người khác.

Điều 116, Luật Nghị viện Nhật Bản có quy định: “Tại phiên họp toàn thể, nghị sĩ có hành động trái với quy định của Luật này hoặc các Nội quy, hoặc có hành vi gây mất trật tự, hoặc làm xúc phạm đến Nghị viện thì người chủ tọa phiên họp có quyền cấm đại biểu đó phát biểu cho đến khi kết thúc phiên họp...” Khi phiên họp đang diễn ra, nếu có nghị sĩ vi phạm Nội quy Phiên họp, Chủ tịch Nghị viện có thể đưa ra các hình thức kỷ luật như: i) Cảnh cáo, ii) Cảnh cáo có ghi thành biên bản, iii) Cấm phát biểu, iv) Mời ra khỏi hội trường.

Ngoài ra, một số Nghị viện còn quy định những hình thức kỷ luật nặng hơn. Khi có những hành vi cho thấy một nghị sĩ nào đó vi phạm kỷ luật trầm trọng, các kiến nghị về việc xem xét hành vi kỷ luật có thể được đưa ra. Thông thường, việc xem xét kỷ luật của một nghị sĩ được bắt đầu từ Uỷ ban Kỷ luật, sau đó Nghị viện sẽ xem xét biểu quyết về hình thức kỷ luật đối với nghị sĩ đó.

Thông thường, biện pháp kỷ luật được biểu quyết là: - Khiển trách tại phiên họp toàn thể, công khai; - Buộc phải xin lỗi trong phiên họp toàn thể, công khai; - Đình chỉ sự tham gia các phiên họp của Nghị viện trong một thời gian nhất định; và - Bãi nhiệm. Vì tính chất nghiêm trọng của các biện pháp kỷ luật này, nhiều Nghị viện quy định việc biểu quyết về hình thức kỷ luật đối với nghị sĩ cần phải có sự đồng ý của một đa số 2/3 tổng số các nghị sĩ có mặt.

5. Thủ tục biểu quyết

Thủ tục biểu quyết là một thủ tục rất quan trọng trong việc thảo luận và quyết định các công việc của Nghị viện bởi vì Nghị viện là một cơ quan tập thể, quyết định các vấn đề theo đa số. Để tìm hiểu cặn kẽ về thủ tục biểu quyết, cần phải xem xét thủ tục này cả về thể thức biểu quyết lẫn cách tính đa số trong các lần biểu quyết. Các thể thức biểu quyết Truyền thống Nghị viện các nước có quy định về rất nhiều thể thức biểu quyết khác nhau.

Ngay trong một Viện, người ta cũng có thể áp dụng nhiều hình thức biểu quyết khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ quan trọng của nội dung biểu quyết. Chẳng hạn, việc biểu quyết về nghị trình có thể bằng hình thức đơn giản là giơ tay, còn để biểu quyết về việc xét tư cách đại biểu của nghị sĩ thì lại áp dụng biện pháp biểu quyết bỏ phiếu kín.

Thông thường, Nghị viện các nước thường quy định các thể thức biểu quyết như sau: Thứ nhất, biểu quyết giơ tay. Thể thức này là thể thức thông dụng, áp dụng để giải quyết những vấn đề thông thường của Nghị viện. Theo cách thức biểu quyết này, quyền quyết định các vấn đề do Nghị viện nêu ra chỉ thuộc về những người hiện diện trong phiên họp biểu quyết. Theo đó, trước hết, Chủ tọa phiên họp đặt vấn đề biểu quyết và các Nghị sĩ biểu quyết bằng cách giơ tay lên khỏi đầu cho đến khi việc xác định kết quả biểu quyết được thực hiện xong . Khi có sự nghi ngờ về tính chính xác của kết quả biểu quyết, các nghị sĩ có thể kiến nghị biểu quyết lại hoặc biểu quyết bằng hình thức khác.

Thứ hai, biểu quyết đứng dậy. Đây là một thể thức biểu quyết tương tự với thể thức biểu quyết giơ tay. Thay vì đếm số lượng các cánh tay giơ lên, người ta đếm số nghị sĩ đứng dậy.

Thứ ba, biểu quyết ghi danh. Thể thức biểu quyết này được thực hiện như sau: Trước hết, Chủ tọa gọi tên các nghị sĩ theo thứ tự mẫu tự lên trước bàn của Chủ tọa và ghi quyết định của lần lượt từng nghị sĩ; Quyết định biểu quyết của nghị sĩ có thể là: hoặc chấp thuận, hoặc bác bỏ, hoặc không có ý kiến. Việc kiểm tra kết quả biểu quyết theo thể thức này được tiến hành bằng cách Văn phòng Nghị viện sẽ cho đọc tên các nghị sĩ chấp thuận, các nghị sĩ bác bỏ, và các nghị sĩ không có ý kiến. Nếu không có nghị sĩ nào phản đối là biểu quyết của mình bị ghi lầm, thì Chủ tọa sẽ căn cứ tỷ lệ thu được để tuyên bố kết quả của cuộc biểu quyết . Thể thức biểu quyết ghi danh có hai đặc điểm: (1) công khai vì qua thủ tục này ai cũng biết rõ một Nghị sĩ đã biểu quyết như thế nào: chấp thuận, bác bỏ hay không có ý kiến. (2) không cho phép sử dụng trung gian vì mỗi Nghị sĩ sẽ phải đưa ra ý kiến của mình khi được Chủ tọa gọi tên. Nội quy các Nghị viện cũng cấm các nghị sĩ sử dụng uỷ nhiệm thư để biểu quyết theo thể thức này. Với những ưu điểm về tính chính xác, thể thức biểu quyết ghi danh được thường xuyên sử dụng nhiều trong Nghị viện các nước để quyết định một số vấn đề quan trọng. Tuy vậy, đây lại là một công cụ đấu tranh chính trị khá hiệu quả của các nhóm thiểu số trong Nghị viện khi vào một thời điểm nào đó nhóm của họ có mặt đầy đủ hơn nhóm đa số, hoặc nếu không áp đảo được nhóm đa số thì cũng có thể trì hoãn một vài quyết nghị mà họ không thích.

Thứ tư, biểu quyết bằng cách bỏ phiếu kín. Với tính chất bí mật về các quyết định của các nghị sĩ, các Nghị viện thường dùng biện pháp này khi quyết định những vấn đề về nhân sự, hoặc về những vấn đề có tính chất nhạy cảm liên quan đến cá nhân, nhất là trong việc bầu cử Chủ tịch Nghị viện, các Chủ tịch Uỷ ban cùng các chức vụ khác trong Nghị viện. Thể thức biểu quyết này thường được tiến hành bằng cách Chủ toạ sẽ gọi tên theo thứ tự, các nghị sĩ sẽ lần lượt đi lên khu vực bỏ phiếu, chọn một phiếu trong ba loại phiếu đã in sẵn: loại chấp thuận, loại bác bỏ, loại không ý kiến và bỏ vào thùng phiếu tại phòng họp. Ngày nay, với sự giúp đỡ của khoa học công nghệ hiện đại, việc biểu quyết theo thể thức bỏ phiếu kín còn có thể thực hiện bằng các phương tiện điện tử. Nhưng để đảm bảo giá trị cho cách thức biểu quyết này, Quốc hội Thụy Điển còn yêu cầu bảng thông báo kết quả điện tử phải được chụp ảnh và đưa vào biên bản phiên họp. Ngoài ra, còn có một phương thức biểu quyết rất đơn giản, đó là biểu quyết bằng miệng. Việc biểu quyết bằng miệng được thực hiện bằng cách trước hết Chủ tọa sẽ nêu vấn đề cần biểu quyết, sau đó hỏi những ai ủng hộ và những ai phản đối. Dựa vào mức độ chênh lệch về âm lượng của câu trả lời “có” hoặc “không” mà chủ tọa sẽ quyết định kết quả của cuộc biểu quyết. Sự kiểm phiếu Việc kiểm phiếu là một công việc có nhiều tính kỹ thuật. Việc kiểm phiếu được thực hiện bằng cách đếm phiếu của các nghị sĩ theo các ý kiến của nghị sĩ đưa ra. Thông thường, thái độ của nghị sĩ thể hiện đối với các cuộc biểu quyết được thể hiện dưới các hình thức:

- “Đã bỏ phiếu thuận”: nghĩa là nghị sĩ chấp thuận phương án được đem ra biểu quyết.

- “Đã bỏ phiếu chống”: nghĩa là nghị sĩ đã bác bỏ phương án nói trên.

- “Đã bỏ phiếu trắng hoặc không tham gia biểu quyết”: nghĩa là những nghị sĩ thể hiện không ủng hộ, cũng không phản đối về phương án biểu quyết. Một số Nghị viện còn có sự phân biệt rõ ràng giữa việc không có ý kiến và từ chối biểu quyết bởi ý nghĩa của hai vị trí này là khác nhau.

Ngoài ra, trong những cuộc kiểm phiếu có yêu cầu chi tiết thì việc kiểm phiếu còn phải tính đến các nghị sĩ:

- “Không thể tham dự vào cuộc bỏ phiếu”: Đó là những nghị sĩ dù có mặt nhưng không được quyền tham gia biểu quyết vì lý do tư cách nghị sĩ của họ đang bị “treo” hoặc để tránh xung đột lợi ích hoặc họ còn đang phải chờ được hợp thức hoá (trường hợp đại biểu dự khuyết như ở Thụy Điển);

- “Vắng mặt vì được phép”: Đó là những nghị sĩ có lý do chính đáng đã được Nghị viện cho phép không dự phiên họp (như bị ốm hoặc đang nghỉ phép);

- “Không tham dự vào cuộc bỏ phiếu”: Theo tục lệ, để thể hiện sự vô tư trong việc điều khiển phiên họp, Chủ tọa phiên họp không biểu quyết về những phương án được thảo luận trong phiên họp. Xác định đa số Nghị viện các nước có nhiều các thức xác định đa số khác nhau đối với từng trường hợp cụ thể. Nhìn chung, thường có các cách xác định đa số như sau:

1) Đa số thường Việc xác định đa số thường được áp dụng nhiều nhất trong các cuộc biểu quyết, đặc biệt là các đối với các cuộc biểu quyết không có tính chất phức tạp. Cách thức xác định đa số phiếu thường được tiến hành bằng cách trong quá trình kiểm phiếu, người ta tính các lá phiếu thuận và các lá phiếu nghịch. Bên nào có số lượng lớn hơn, cho dù chỉ là một lá phiếu thì bên đó sẽ thắng. Trong cách thức xác định đa số thường này, các phiếu bất hợp lệ và phiếu trắng, hay các nghị sĩ không biểu quyết không cần được tính đến. Tuy vậy, cần phải tính đến trường hợp là nếu phiếu thuận bằng với số với phiếu nghịch thì phần thắng sẽ thuộc về bên nào? Nếu căn cứ vào lý luận, người ta phải kết luận biểu quyết đó không được chấp nhận. Nhiều Nghị viện ở Châu Âu áp dụng giải pháp này như CHLB Đức, Áo, Bỉ, Đan Mạch, Pháp... Một số nước như Anh, Nhật, Philippines lại quy định trong trường hợp này Chủ tọa phiên họp là người có quyết định cuối cùng. Theo đó, thông thường chủ tọa phiên họp sẽ không được biểu quyết nhưng nếu phiếu thuận ngang phiếu nghịch, thì Chủ toạ sẽ bỏ phiếu và quyết định vấn đề bằng lá phiếu của mình. Ở Thụy Điển, vấn đề này được giải quyết bằng cách rút thăm. (Điều 6, Luật Nghị viện Thụy Điển). Ở Hà Lan và Indonesia, Nghị viện lại áp dụng biện pháp biểu quyết lại trong phiên họp lần sau.

2) Các đa số đặc biệt Trong những cuộc biểu quyết về các vấn đề có tính chất hệ trọng, Hiến pháp các nước thường quy định rằng các quyết định của Nghị viện cần phải thu được một đa số đặc biệt. Thông thường, các vấn đề có yêu cầu đa số đặc biệt ở Nghị viện các nước là:

- Cho phép hành pháp truy tố, bắt giam, hay xét xử một nghị sĩ;

- Xem xét vấn đề bãi nhiệm một nghị sĩ;

- Kiến nghị giải tán Chính phủ;

- Kiến nghị thực hiện thủ tục luận tội các quan chức của ngành hành pháp;

- Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp;

- Thông qua các bản tu chính Hiến pháp. Các đa số đặc biệt thường được quy định là 2/3, hoặc 3/4 tổng số nghị sĩ của Nghị viện. Tuy vậy, ở đây lại có vấn đề đặt ra là “tổng số nghị sĩ của Nghị viện” được hiểu như thế nào.

Thực tế, tổng số này được xác định tuỳ thuộc vào truyền thống của từng Nghị viện. Đó có thể là tổng số nghị sĩ theo quy định của Hiến pháp, hoặc tổng số nghị sĩ của Nghị viện không kể các ghế nghị sĩ bị trống (do nghị sĩ từ nhiệm, bị miễn nhiệm, hoặc bị bắt giam mà chưa có người thay thế), hoặc cũng có thể là tổng số nghị sĩ có mặt…. Trong lịch sử của Hạ viện Pháp, vấn đề này đã gây tranh luận nhiều lần, đặc biệt là vào những năm 1947 và 1949. Giải pháp được Hạ viện Pháp chấp nhận là mẫu số cho việc tính các đa số đặc biệt kể trên là tổng số nghị sĩ hiện thời của Nghị viện. Tức là lấy tổng số nghị sĩ tối đa (thường do Hiến pháp quy định) trừ đi những ghế hiện thời bị trống. Theo cách thức này, những nghị sĩ mặc dù có thể không thực hiện quyền biểu quyết (nghỉ phép, ốm đau, hoặc chưa đủ tư cách thành viên) vẫn được tính vào tổng số. d) Tuyên bố kết quả biểu quyết Sau khi kiểm phiếu và xác định xong kết quả biểu quyết, kết quả này sẽ được tuyên bố tại Nghị viện. Một quy tắc nghiêm ngặt được đặt ra đối với quá trình biểu quyết của Nghị viện, đó là các chi tiết về biểu quyết phải được ghi vào biên bản của Nghị viện. Ngay như việc biểu quyết bằng phương tiện điện tử thì trong biên bản của Nghị viện còn phải kèm theo cả ảnh chụp kết quả này.

Theo nguyên tắc, một khi kết quả cuộc bầu cử được tuyên bố, các nghị sĩ không thể đính chính lá phiếu của mình. Tuy vậy, các nghị sĩ cũng có thể đính chính một cách danh nghĩa nhiều hơn là mang ý nghĩa thực tế bằng cách tuyên bố rằng họ đã nhầm lẫn trong lúc bỏ phiếu. Nhưng kết quả đã được Nghị viện tuyên bố, được ghi vào biên bản thì không thể nào thay đổi được. 6.8 Thủ tục về biên bản phiên họp Biên bản của các phiên họp của Nghị viện có một vị trí quan trọng trong hoạt động của Nghị viện. Biên bản là một tài liệu quý giá ghi lại những hoạt động của Nghị viện, là cơ sở để thực hiện việc giải thích pháp luật và là chứng cứ chứng minh cho giá trị của các quyết định của Nghị viện là hợp pháp và được thực hiện theo đúng quy trình. Chính vì biên bản các phiên họp có tầm quan trọng như vậy nên Luật về Nghị viện, và Nội quy của Nghị viện các nước thường dành một phần lớn để quy định về nội dung và thủ tục ghi biên bản phiên họp của Nghị viện. Thông thường, nội dung của biên bản ghi lại tất cả những vấn đề cơ bản trong tiến trình làm việc của Nghị viện. Điều 200, Nội quy Hạ viện Nhật Bản có quy định các vấn đề được ghi vào biên bản gồm: ngày, giờ khai mạc, bế mạc, tạm ngừng phiên họp; chương trình nghị sự; tên những nghị sĩ đã tham gia thủ tục điểm danh; việc nhận kiến nghị, thông báo; các đệ trình của Chính phủ, các kiến nghị và việc rút các biện pháp; nội dung các vấn đề được thảo luận tại phiên họp; báo cáo của các uỷ ban và các báo cáo ý kiến thiểu số; các thủ tục được tiến hành tại phiên họp, các câu hỏi và trả lời; tên của các nghị sĩ đã biểu quyết nếu cuộc biểu quyết là công khai; các vấn đề khác mà Nghị viện xét thấy cần đưa vào biên bản. Nghị viện các nước khác cũng có những quy định tương tự.

Thông thường, ở các nước, biên bản phiên họp được ghi bằng biện pháp ghi tốc ký. Sau đó, biên bản sẽ được chuyển đến cho các nghị sĩ để những người này có thể hiệu đính những lời phát biểu của mình trong biên bản, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc không được làm thay đổi những ý chính của bài phát biểu. Nếu có kiến nghị xem xét lại những hiệu đính này thì Nghị viện phải xem xét vấn đề đó trong một phiên họp toàn thể. Các biên bản này phải được người chủ tọa phiên họp đó ký xác thực và được lưu giữ tại bộ phận lưu trữ của Nghị viện. Ngoài ra, nó cũng được công bố công khai trong các Công báo của Nghị viện.