1. Những đối tượng nào phải tham gia bảo hiểm y tế theo quy định

Theo Điều 12 của Luật Bảo hiểm y tế 2008 (đã được sửa đổi bởi khoản 6 Điều 1 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi 2014), việc quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm y tế đã được xác định một cách chi tiết và rõ ràng nhằm đảm bảo rộng rãi và hiệu quả. Các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế được phân chia thành ba nhóm chính như sau:
Nhóm 1: Do người lao động và người sử dụng lao động đóng
- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức.
- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật.
Nhóm 2: Do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng
- Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng.
- Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng.
- Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.
- Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Nhóm 3: Do ngân sách nhà nước đóng
- Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân.
- Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước.
- Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước.
Nhóm 4: Được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng
- Người thuộc hộ gia đình cận nghèo.
- Học sinh, sinh viên.
Nhóm 5: Tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình
- Gồm những người thuộc hộ gia đình, trừ đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.
Nhóm 6: Chính phủ quy định đối tượng khác và các quy định cụ thể
- Bao gồm các đối tượng ngoài các nhóm trên, và quy định việc cấp thẻ bảo hiểm y tế, lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế, phạm vi quyền lợi, mức hưởng bảo hiểm y tế, khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, quản lý, sử dụng kinh phí cho khám bệnh và chữa bệnh bảo hiểm y tế, giám định bảo hiểm y tế, thanh toán, và quyết toán bảo hiểm y tế đối với các đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.
Với những quy định chi tiết và rõ ràng này, chính sách bảo hiểm y tế đảm bảo tính công bằng và bền vững trong việc bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng.
 

2. Tính thời gian tham gia bảo hiểm y tế thế nào khi lao động về nước tham gia lại bảo hiểm y tế?

Theo quy định của khoản 5 Điều 12 trong Nghị định 146/2018/NĐ-CP về thẻ bảo hiểm y tế, việc xác định thời gian tham gia bảo hiểm y tế đối với những đối tượng cụ thể đã được điều chỉnh một cách chi tiết và linh hoạt. Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi và tính công bằng trong việc chi trả chi phí khám bệnh và chữa bệnh. Các điểm quan trọng cần lưu ý bao gồm:
- Thời gian tham gia 05 năm liên tục trở lên: Đối với những người phải cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh, yêu cầu thời gian tham gia bảo hiểm y tế liên tục ít nhất 05 năm. Thời gian liên tục được xác định dựa trên thời gian sử dụng ghi trên thẻ bảo hiểm y tế, với gián đoạn tối đa không quá 03 tháng.
- Thời gian ở nước ngoài và khi đi lao động ở nước ngoài: Người được cơ quan có thẩm quyền cử đi công tác, học tập, làm việc hoặc theo chế độ phu nhân, phu quân, hoặc con dưới 18 tuổi đi theo bố hoặc mẹ công tác nhiệm kỳ ở cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, thời gian ở nước ngoài được tính là thời gian tham gia bảo hiểm y tế.
Người lao động khi đi lao động ở nước ngoài, thời gian đã tham gia bảo hiểm y tế trước khi đi được tính nếu tham gia bảo hiểm y tế khi trở về nước trong thời gian 30 ngày kể từ ngày nhập cảnh.
- Thời gian chờ hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp: Người lao động trong thời gian làm thủ tục chờ hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp, theo quy định của Luật việc làm, thời gian đã tham gia bảo hiểm y tế trước đó được tính là thời gian đã tham gia bảo hiểm y tế.
- Đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 12 của Luật bảo hiểm y tế: Đối tượng này, khi nghỉ hưu, xuất ngũ, chuyển ngành hoặc thôi việc, nếu thời gian học tập, công tác trong quân đội nhân dân, công an nhân dân và tổ chức cơ yếu chưa tham gia bảo hiểm y tế, thì thời gian đó được tính là thời gian tham gia bảo hiểm y tế liên tục.
Những điều chỉnh này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia bảo hiểm y tế mà còn phản ánh cam kết của chính phủ trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và bảo vệ quyền lợi của cộng đồng.
Theo quy định nêu rõ, khi người lao động quyết định đi lao động ở nước ngoài, thời gian đã tham gia bảo hiểm y tế trước khi rời nước mình sẽ được tính vào hệ thống bảo hiểm y tế. Điều này áp dụng trong trường hợp người lao động quay trở về nước Việt Nam và tham gia bảo hiểm y tế trong thời gian 30 ngày kể từ ngày nhập cảnh.
Điều này mang lại lợi ích đặc biệt cho những người lao động xuất cảnh vì công việc tại nước ngoài. Khi họ quyết định trở về nước và tham gia bảo hiểm y tế trong khoảng thời gian ngắn sau khi nhập cảnh, thì thời gian mà họ đã đóng bảo hiểm y tế trước đó sẽ được tính vào quyền lợi bảo hiểm. Điều này không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe của họ mà còn đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi giữa các chế độ bảo hiểm y tế khi họ trở về nước.
Quy định này không chỉ thể hiện sự chăm sóc đặc biệt đối với người lao động xuất khẩu lao động mà còn là một biện pháp linh hoạt, khuyến khích họ đảm bảo quyền lợi sức khỏe của mình khi quay trở lại quê hương. Đồng thời, điều này cũng là một bước tích cực trong việc thúc đẩy việc tham gia bảo hiểm y tế trong cộng đồng lao động, đảm bảo rằng họ có quyền hưởng các chính sách chăm sóc sức khỏe khi cần thiết.
 

3. Những hành vi nào bị nghiêm cấm khi tham gia bảo hiểm y tế?

Theo Điều 11 của Luật Bảo hiểm y tế 2008, có tổng cộng 06 nhóm hành vi bị nghiêm cấm nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng và chính xác trong quản lý và thực hiện chính sách bảo hiểm y tế. Các hành vi này không chỉ vi phạm các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm y tế mà còn đặt ra những hậu quả nghiêm trọng đối với hệ thống này. Dưới đây là chi tiết từng nhóm hành vi cấm:
- Không đóng hoặc đóng bảo hiểm y tế không đầy đủ: Bất kỳ hành vi nào liên quan đến việc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng bảo hiểm y tế theo quy định của Luật này sẽ bị nghiêm cấm.
- Gian lận, giả mạo hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế: Mọi hành vi gian lận, giả mạo hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế đều bị coi là vi phạm nghiêm trọng và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
- Sử dụng tiền đóng bảo hiểm y tế sai mục đích: Cấm sử dụng tiền đóng bảo hiểm y tế và quỹ bảo hiểm y tế cho các mục đích không phù hợp với quy định và mục tiêu của hệ thống bảo hiểm y tế.
- Cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp: Mọi hành vi cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm y tế và các bên liên quan đều bị xem xét và xử lý.
- Cố ý báo cáo sai sự thật, cung cấp thông tin sai lệch: Cấm cố ý báo cáo sai sự thật hoặc cung cấp thông tin, số liệu không chính xác liên quan đến bảo hiểm y tế.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái với quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế: Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chuyên môn, nghiệp vụ để làm trái với quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế đều bị xem xét và xử lý một cách nghiêm túc.
Những biện pháp nghiêm túc như vậy không chỉ nhấn mạnh sự quan trọng của tính minh bạch và trung thực trong quản lý bảo hiểm y tế mà còn tạo ra sự đe dọa đối với những người có ý định vi phạm, đảm bảo rằng hệ thống bảo hiểm y tế hoạt động một cách hiệu quả và công bằng.
 
Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn pháp luật