1. Giai đoạn năm 1945
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công với sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, để bảo vệ thành quả cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 33C/SL ngày 13/9/1945 và Sắc lệnh số 37/SL ngày 26/9/1945 quy định về việc thành lập và hoạt động các Tòa án quân sự. Theo đó, các Tòa án có quyền xét xử các hành vi xâm phạm nền độc lập của chính quyền; những bản án của Tòa án quân sự sẽ được thi hành ngay, đương sự không có quyền kháng cáo, trừ trường hợp bị tuyên tử hình thì có quyền xin Chủ tịch nước ân giảm.
Ngày 23-11-1945, Chính phủ ra Sắc lệnh số 64 thiết lập một ban Thanh tra đặc biệt. Điều 1 Sắc lệnh quy định Ban Thanh tra đặc biệt có nhiệm vụ “đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ”. Điều 3 quy định: “Sẽ thiết lập ngay tại Hà Nội một Toà án đặc biệt để xử những nhân viên của các Uỷ ban nhân dân hay các cơ quan của Chính phủ do ban Thanh tra truy tố”. Toà án đặc biệt do Chủ tịch Chính phủ lâm thời làm Chánh án, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Hội thẩm (Điều 4). Toà án đặc biệt có toàn quyền định, có thể tuyên án tử hình. Những án tuyên lên sẽ thi hành trong 48 giờ (Điều 6) Ban Thanh tra và Toà án đặc biệt được lập ra chỉ có tính chất tạm thời (Điều 7).
Có thể thấy rằng trong mấy tháng đầu sau ngày giành được chính quyền về tay nhân dân, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ đã rất chú trọng xây dựng bộ máy Nhà nước vì nhân dân phục vụ nói chung, trong đó có Toà án nhân dân nói riêng. Khái quát về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân trong năm 1945 chúng ta thấy Toà án chỉ được tổ chức một cấp, nhưng quyết định của Toà án sẽ được thi hành ngay sau khi tuyên án, không có quyền chống án, trừ người bị Toà án Quân sự kết án tử hình thì có quyền làm đơn lên Chủ tịch Chính phủ xin ân giảm. Trong trường hợp người bị kết án tử hình có làm đơn xin ân giảm án tử hình, thì bản án chưa được thi hành mà phải chờ quyết định của Chủ tịch Chính phủ (Điều 3 Sắc lệnh ngày 13-9-1945). Cũng cần lưu ý rằng đối với Nam bộ thì bằng Sắc lệnh số 77B ngày 24-12-1945 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã uỷ quyền cho Ban thường vụ của Uỷ ban nhân dân Nam bộ quyền ân giảm án tử hình này, có nghĩa là kể từ ngày 24-12-1945 nếu người nào bị một trong các Toà án quân sự ở Nam bộ kết án tử hình, thì có quyền làm đơn lên Uỷ ban nhân dân Nam bộ xin ân giảm án tử hình. Quyết nghị của Ban thường vụ Uỷ ban nhân dân Nam bộ cho hay không cho ân giảm án tử hình được coi là quyết nghị của Chủ tịch Chính phủ (Điều 1).
2. Giai đoạn năm 1946 đến đến trước công cuộc Cải cách tư pháp năm 1950.
Ngày 24-1-1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra Sắc lệnh số 13 về tổ chức các Toà án và các ngạch Thẩm phán. Đây là Sắc lệnh đầu tiên quy định một cách đầy đủ tổ chức giải quyết các tranh chấp, xử phạt các việc vi cảnh ở cơ sở cũng như tổ chức các Toà án và quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của các ngạch Thẩm phán; cụ thể như sau:
, Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 do Chủ tịch Chính phủ ban hành, quy định về hệ thống Tòa án gồm: Các Tòa án thượng thẩm ở mỗi kỳ; các Tòa đệ nhị cấp ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các Tòa sơ cấp ở huyện, quận, chầu, phủ. Thẩm phán có 02 ngạch, Thẩm phán sơ cấp làm việc ở Tòa sơ cấp do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và Thẩm phán đệ nhị cấp làm việc ở Tòa đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm do Chủ tịch nước bổ nhiệm. Các Thẩm phán chia làm 02 loại, Thẩm phán buộc tội và Thẩm phán xử án. Các Phụ thẩm nhân dân tham gia xét xử, nếu xét xử tiểu hình thì chỉ góp ý kiến, nếu xét xử đại hình thì có quyền quyết định cùng với Thẩm phán. Đáng lưu ý, tại Sắc lệnh này, thuật ngữ “công lý” đã được đề cập: “Các vị Thẩm phán sẽ chỉ trọng pháp luật và công lý” (Điều 47). Khi các Phụ thẩm nhậm chức, phải tuyên thệ: “Tôi thề trước Công lý và nhân dân rằng tôi sẽ suy xét cẩn thận những ân đem ra xử, không hề ăn hối lộ, vị nể, vì sợ hãi, vì tư lợi hay thù oán riêng mà bênh vực hay làm hại một bị can nào. Tôi sẽ cứ công bằng mà xét định mọi việc” (Điều 25)...
Đến giai đoạn Hiến pháp năm 1946, hệ thống Tòa án nhân dân gồm có: Tòa án tối cao, các Tòa án phúc thẩm, các Tòa án đệ nhị cấp và các Tòa án sơ cấp. Các Tòa án được tổ chức theo cấp xét xử, không theo đơn vị hành chính - lãnh thổ. Các Thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm. Khi xét xử, phải tuân theo nguyên tắc việc hình thì phải có Phụ thẩm nhân dân tham gia; các Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật; phiên tòa phải công khai, trừ trường hợp đặc biệt; các bị cáo được quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư (Điều 67)...
Sắc lệnh số 19/SL ngày 16/02/1947 và Sắc lệnh số 59/SL ngày 05/7/1947 được ban hành trong giai đoạn trường kỳ kháng chiến chống thực dần Pháp, để củng cố và tăng cường kỷ luật trong quân đội. Tòa án binh tối cao và các Tòa án binh được thành lập để xét xử các quần nhân phạm tội và những người khác gây thiệt hại cho quân đội...
3. Giai đoạn năm từ năm 1950 đến 1958
Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 được ban hành để cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng. Theo đó, Tòa án sơ cấp gọi là Tòa án nhân dân huyện, Tòa án đệ nhị cấp gọi là Tòa án nhân dân tỉnh, Hội đồng phúc án gọi là Tòa phúc thẩm, Phụ thẩm nhân dân gọi là Hội thẩm nhân dân; khi xét xử và bào chữa, Thẩm phán và Luật sư không mặc áo chùng đen; Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử, ngang quyền với Thẩm phán...
3.1. Về tổ chức
- Bộ máy tư pháp được dân chủ hoá các Tòa án sơ cấp, đệ nhị cấp nay gọi là Tòa án nhân dân huyện, Tòa án nhân dân tỉnh. Hội đồng phúc án nay là Tòa Phúc thẩm phụ thẩm nhân dân nay gọi là hội thẩm nhân dân.
- Thành phần nhân dân được đa số trong việc xét xử: Để xét xử việc hình và hộ, Tòa án nhân dân huyện và tỉnh gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Tòa Phúc thẩm gồm hai Thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân. Hội thẩm nhân dân có quyền xem hồ sơ và biểu quyết.
- Thành lập hội đồng hoá giải tại mỗi huyện nhằm mục đích giao cho nhân dân trực tiếp phụ trách việc hoá giải tất cả các việc hộ kể cả việc ly dị mà từ trước tới nay chỉ có Chánh án Tòa án tỉnh mới có thẩm quyền. Biên bản hòa giải thành có chấp hành lực. Đây là một điểm tiến bộ so với thế hệ cũ. Khi các đương sự đã thoả thuận trước hội đồng hoá giải thì việc hòa giải được đem thi hành ngay.
- Áo chùng đen của Thẩm phán và luật sư nay bỏ đi.
3.2. Về thẩm quyền
- Tăng thẩm quyền cho ban tư pháp xã về việc phạt vi cảnh để làm cho một số việc ít quan trọng về mặt trị an sẽ được giải quyết mau chóng ngay tại xã.
- Giao cho các Tòa án nhân dân huyện quyền ấn định các phương pháp bảo thủ, dù việc xử kiện không thuộc thẩm quyền Tòa án nhân dân huyện để tránh cho đương sự khỏi phải tốn phí đi lên Tòa án tỉnh và những việc cấp bách có thể được giải quyết mau chóng hơn.
3.3. Về tố tụng
Thủ tục tố tụng được hợp lý và giản dị hơn.
- Trái với quan niệm cũ cho rằng việc hộ thường chỉ có lợi hoặc có hại riêng cho tư nhân mà xã hội không cần can thiệp đến, thì nay công tố viên có quyền kháng cáo các án hộ nếu xét ra cần thiết.
- Theo Sắc lệnh số 51 ngày 17-4-1946, biện lý bắt buộc phải đưa sang phòng dự thẩm để thẩm cứu một số việc hình dù rằng xét ra không cần thiết. Nay biện lý chỉ giao sang phòng dự thẩm khi xét thật cần thiết. Nay biện lý chỉ giao sang phòng dự thẩm khi xét thật cần thiết mà thôi.
- Trước đây mỗi khi thủ tục tố tụng không được theo đúng thì bị tiêu hủy dù không có hại cho việc thẩm cứu, hoặc cho quyền lợi của đương sự. Nay coi điều đó là quá câu nệ về hình thức không còn hợp thời nữa.
- Từ nay người bị thiệt hại về một vụ phạm pháp có thể xin kháng cáo không những để tăng tiền bồi thường mà còn để tăng hình phạt nữa.
- Việc chấp hành án nay giao cho Thẩm phán huyện phụ trách.
Tóm lại, việc cải cách rõ ràng có mục đích tăng thành phần nhân dân tham gia công tác tư pháp làm nhẹ bộ máy tư pháp để công việc xét xử được nhanh chóng và gần dân hơn.
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, tháng 4/1958, Quốc hội quyết định thành lập Tòa án nhân dân tối cao và Viện công tố trung ương, trực thuộc Hội đồng Chính phủ.
4. Giai đoạn năm 1959 đến trước năm 2013
Đến giai đoạn Hiến pháp năm 1959, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao được Quốc hội thành lập và chịu trách nhiệm trước Quốc hội, không còn trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 được ban hành, hệ thống Tòa án nhân dân lúc này gồm có: Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và Tòa án đặc biệt do Quốc hội thành lập. Chế độ bầu Thẩm phán thay thế chế độ bổ nhiệm Thẩm phán; Thẩm phán địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu; các Tòa án nhân dân được thành lập theo đơn vị hành chính - lãnh thổ; việc quản lý về tổ chức của Tòa án nhân dân địa phương do Tòa án nhân dân tối cao đảm nhiệm; quy định nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 3); khi xét xử, Tòa án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 4); bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo...
Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981, Luật tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi, bổ sung năm 1988 được ban hành. Theo đó, việc quản lý Tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức do Bộ Tư pháp đảm nhiệm; thẩm quyền xét xử được mở rộng qua thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; quy định trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân phải tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành phán quyết có hiệu lực của Tòa án...
Đến giai đoạn Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992, Luật tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi, bổ sung năm 1993 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi, bổ sung năm 1995 được ban hành. Theo đó, chế độ bổ nhiệm Thẩm phán do Chủ tịch nước thực hiện thay thế chế độ bầu Thẩm phán; Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính được thành lập thuộc cơ cầu Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án nhân dân cấp tỉnh để giải quyết các vụ án kinh tế, yêu cầu phá sản doanh nghiệp, tranh chấp lao động, đình công, vụ án hành chính; quy định nguyên tắc Tòa án có thể xử kín để giữ bí mật của các đương sự theo yêu cầu; quy định nguyên tắc cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật...
Thực hiện yêu cầu cải cách tư pháp được đề ra trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X và Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị; nhằm cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001, các Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2011 được ban hành. Iheo đó, Chủ tịch nước chỉ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao, còn Thẩm phán trung cấp, sơ cấp do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán. Tòa án nhân dân tối cao không còn thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm, nên không có Hội thẩm nhân dân. ủy ban Thẩm phán là cơ quan thường trực của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao bị bãi bỏ...
5. Nhận xét khái quát về các giai đoạn này
Các Hiến pháp trong thời kỳ này đều thể hiện sự tôn trọng các quyền và nghĩa vụ của công dân, trong đó có đề' cập gián tiếp đến quyền được xét xử công bằng: Hiến pháp năm 1946 dành 11 điều (từ Điều thứ 6 đến Điều thứ 16), Hiến pháp năm 1959 dành 21 điều (từ Điều 22 đến Điều 42), Hiến pháp năm 1980 dành 29 điều (từ Điều 53 đến Điều 81), Hiến pháp năm 1992 dành 34 điều (từ Điều 49 đến Điều 82);
Giai đoạn đầu, công lý được quan niệm như là một giá trị phổ quát, bất khả xâm phạm, dường như đứng trên mọi giá trị khác. Điển hình tại Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 quy định lời tuyên thệ của Phụ thẩm “Tôi thề trước Công lý và nhân dân rằng...” (Điều 25), hoặc “các vị Thẩm phán sẽ chỉ trọng pháp luật và công lý” (Điều 47). Trong giai đoạn này, công lý gắn chặt với yêu cầu tôn trọng luật lệ bảo đảm tự do cá nhân, hạn chế tối đa việc bắt giữ người trái phép: “Muốn bảo vệ công lý... thì cần phải cố gắng thi hành triệt để các sắc lệnh về bảo đảm tự do cá nhân. Việc thực thi thể lệ bắt một người công dân phải hết sức chặt chẽ: Phải có duyên cở do luật định, việc bắt phải có lệnh viết của Thẩm phán, chỉ cơ quan công an hay cảnh vệ mối có quyền thi hành lệnh ấy; câm việc tra tấn; “cơ quan tư pháp đã cương quyết phụng sự công lý, cố' gắng làm cho pháp luật được tôn trọng trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh của cuộc kháng chiến.
Giai đoạn sau năm 1948 đến trước thời kỳ đổi mới năm 1986, công lý được quan niệm gắn với yêu cầu kháng chiến và đấu tranh giai cấp, quan niệm công lý trước đó bị phê phán là “trừu tượng”, “siêu hình”, “duy tâm”, “ngoài đời sống của xã hội”, “chưa gắn bó với nhân dân. Nội hàm của công lý lúc này là “loại bỏ không khoan nhượng mọi hình thức bóc lột giữa người với người”, “lý tưởng kháng chiến phải là động cơ cho những hành động tư pháp kháng chiến. Cùng với đó là thay thế chế độ Phụ thẩm chỉ tham gia ý kiến bằng chế định Hội thẩm nhân dân bắt buộc, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán và chiếm đa số trong xét xử nhằm biểu đạt về' một nền công lý có nội dung “nhân dân” sâu sắc, đại diện cho đông đảo nhân dần. Thẩm phán chuyên trách không chỉ được tuyển chọn từ những người có trình độ pháp luật mà mở rộng lựa chọn từ hàng ngũ cán bộ công nông. Có thời kỳ công lý “nặng về mặt cưỡng chế và trừng phạt mà nhẹ về bảo đảm quyền lợi chính đáng của quân chủng. Ở giai đoạn này, “pháp luật dân sự rất thiếu, nên nhiều việc tranh chấp quyền lợi giữa các công dân lẽ ra phải giải quyết bằng pháp luật dân sự mới bảo đảm công bằng dân chủ thì thường lại giải quyết bằng mệnh lệnh hành chính. Luật hình sự mới được ban hành nhưng chưa có luật tố tụng hình sự để bảo đảm thực hiện. Nhiều việc lẽ ra phải xử lý hình sự môi nghiêm, thì lại chỉ xử lý hành chính...', hay có thể nói, công lý trong thời kỳ này chịu ảnh hưởng bởi tính giai cấp hết sức sâu sắc;
Giai đoạn từ năm 1986 trở đi, đất nước thực hiện công cuộc đổi mới nhằm dân chủ hóa mọi mặt trong đời sống xã hội, theo đó tư duy pháp lý phải bắt đầu từ việc “tôn trọng quy luật khách quan, vận dụng đúng đắn, hành động theo quy luật. Theo tiến trình dân chủ hóa độ, công lý cũng dần được thể hiện rõ nét qua các giá trị dân chủ, pháp quyền và đảm bảo các quyền tự do cá nhân.
Luật Minh Khuê biên tập và sưu tầm