Theo quy định của Phụ lục VI về Quy chế của Toà án quốc tế về Luật biển, kèm theo Công ước Luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc.

1. Thành phần và cơ cấu tòa án luật biển

Khác với Toà án quốc tế Liên hợp quốc, cơ cấu thành viên của Toà luật biển do các thành viên Công ước Luật biển quyết định. Với thành phần 21 thẩm phán, cách quy định về nhiệm kỳ, tiêu chí của Thẩm phán Toà luật biển nhìn chung tương tự như quy định của Toà án quốc tế Liên hợp quốc. Việc xét xử của Toà có thể tuân theo trình tự đầy đủ hoặc trình tự rút gọn, thông qua toà trọng tài

Trong cơ cấu của Toà còn có Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển (Điều 14, Phụ lục VI), gồm 11 trong tổng số các thẩm phán của Toà, được bầu ra theo đa số. Đại hội đồng của Cơ quan quyền lực có quyền định ra các khuyến nghị chung về sự đại diên vạ phân bổ đảm bảo nguyên tắc công bằng về địa lý và tính chất đại diện cho các nền pháp luật chủ yếu trên thế giới.

2. Thẩm quyền của tòa án luật biển

Toà án quốc tế về Luật biển có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên cũng như tất cả các thực thể khác không phải là quốc gia thành viên cùa Công ước trong tất cả các trường hợp liên quan đến việc quản lý và khai thác vùng - di sản chung của toàn thể loài người. Toà cũng có thẩm quyền mọi tranh chấp được đưa ra theo các thoả thuận khác giao cho Toà thẩm quyền được tất cả các bên chấp nhận. Như vậy, khi xác định thẩm quyền của Toà xét xử những vụ tranh chấp liên quan đến quản lý và khai thác vùng, Công ước không giới hạn chủ thể tham gia tranh chấp chỉ là các quốc gia thành viên mà có sự mở rộng phạm vi chủ thể franh chấp tới các quốc gia không phải là thành viên, Cơ quan quyền lực và các tự nhiên nhân, pháp nhân yêu cầu được một quốc gia bảo trợ. Ngoài ra, Toà án về Luật biển còn có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước trong lĩnh vực thực hiện các quyền chủ quyền hay quyền tài phán của quốc gia ven biển, đối với các quyền tự do của các quốc gia khác về hàng hải, hàng không, đặt dây cáp và ôhg dẫn ngầm, đôì với việc nghiên cứu khoa học biển, đối với các tài nguyên sinh vật thuộc vùng đặc quyền kinh tế.

Điểm khác cơ bản về thẩm quyền của Toà án về Luật biển so với Toà án Công lý quốc tế và Toà án Liên minh châu Âu là việc Toà này không có thẩm quyền giải thích luật với ý nghĩa của kết luận tư vấn. Các chủ thể tranh chấp cũng không buộc phải lựa chọn Toà án về Luật biển với ý nghĩa là cơ quan tài phán bắt buộc khi có tranh chấp xảy ra.

3. Thủ tục tố tụng tại phiên toà và giá trị của phán quyết

Công ước của Liên hợp quốc năm 1982 về Luật biển, cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Toà, được sự bảo trợ của Liên hợp quốc, cũng như sự tham gia của các chuyên gia về luật quốc tế của liên hợp quốc. Chính vì vây, Toà án quốc tế về Luật biển cũng có nhiều điểm tương đồng với Toà án công lý quốc tế của Liên hợp quốc, nhất là về thủ tục tố tụng tại phiên toà và giá trị pháp lý của phán quyết.

Phán quyết của Toà có giá tri bắt buộc đốỉ với các bên tranh chấp. Vấn đề mối quan hệ của Toà án quốc tế về Luật biển và Toà án công lý quốc tế hiện vẫn còn đang bò ngỏ và sẽ được hai Toà thoả thuận trôn cơ sở tôn trọng Quy chế của Toà án Công lý quốc tế Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, việc Toà án Công lý quốc tế Liên hợp quốc có thẩm quyền xem xét lại các phán quyết của Toà án quốc tế về Luật biển hay không sẽ được xác định.

4. Toà trọng tài quốc tế về Luật biển

Toà trọng tài quốc tế về Luật biển là cơ quan tài phán quốc tế, được thành lập và hoạt động trên cơ sở Công ước Luật biển năm 1982 (Phụ lục VII của Công ước). Theo quy định của Công ước, Toà trọng tài quốc tế về Luật biển có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sau:

- Các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước về việc thi hành các quyền chủ quyền hay quyền tài phán của quốc gia ven biển;

- Các tranh chấp hên quan đến việc giải thích hay áp dụng các quy định cùa Công ước về nghiên cứu khoa học biển;

- Các tranh chấp Hên quan đến việc giải thích hay áp dụng các quy định cùa Công ước về đánh bắt hải sản.

Các chủ thể có quyền đưa vụ tranh chấp ra Toà trọng tài quốc tế về Luật biển bao gồm các quốc gia thành viên Công ước, các thực thể không phải là quốc gia thành viên trong các trường hợp liên quan đến việc quản lý và khai thác vùng - di sản chung của loài người và các tổ chức quốc tế liên chính phủ, là thành viên của Công ước.

Về thành phần, Toà trọng tài quốc tế về Luật biển bao gồm các trọng tài viên, được các quốc gia thành viên Công ước chỉ định. Mỗi quốc gia thành viên có quyền chỉ định bốn trọng tài viên là những người có năng lực, kinh nghiêm về Luật biển và nổi tiếng về sự công bằng, liêm chính. Dựa trên sự đề cử này, Tổng thư ký Liên hợp quốc có trách nhiệm lập một danh sách các trọng tài viên. Khi có tranh chấp phát sinh, từ danh sách trọng tài viên của Tổng thư ký Liên hợp quốc, một hội đồng trọng tài sẽ được thành lập bao gồm năm thành viên. Mỗi bên tranh chấp có quyền chỉ định một thành viên tham gia hội đồng trọng tài. Ba thành viên còn lại được các bên thoả thuận cử ra và chủ tịch hội đồng trọng tài sẽ được lựa chọn trong số ba thành viên đó.

Phán quyết của Toà trọng tài quốc tế về Luật biển được thông qua theo nguyên tắc đa số. Trong trường hợp số phiếu ngang nhau thì lá phiếu của Chủ tịch hội đồng trọng tài là lá phiếu quyết định. Phán quyết này là chung thẩm và không được kháng cáo, trừ khi các bên có thoả thuận khác. Ngoài Toà trọng tài quốc tế về Luật biển được thành lập theo phụ lục vn của Công ước Luật biển năm 1982, các quốc gia thành viên còn có thể đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại một Toà trọng tài đặc biệt. Toà trọng tài đặc biệt được thành lập và hoạt động theo phụ lục vm của Công ước về Luật biển năm 1982. Toà này có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp trong từng lĩnh vực riêng biệt, như hàng hải, nghiên cứu khoa học biển, đánh bắt hải sản, bảo vê và gìn giữ môi trường biển. Khác với Toà trọng tài quốc tế về Luật biển được thành lập theo Phụ lục vn, việc thành lập Toà trọng tài đặc biệt có sự đóng góp đáng kể của các tổ chức quốc tế có thẩm quyền chuyên môn trong từng lĩnh vực, như Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO), Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO), Chương trình của Liên hợp quốc về môi trường (UNEP), ủy ban hải dương học liên chính phủ. Các tổ chức này có trách nhiệm lập một danh sách các chuyên viên, dựa trên sự đề cử của các quốc gia thành viên. Mỗi quốc gia thành viên có quyền chỉ định hai chuyên viên trong mỗi lĩnh vực. Khi có tranh chấp phát sinh, dựa trên danh sách các chuyên viên đã được lập, một hội đổng trọng tài đặc biệt sẽ được thành lập, gồm năm thành viên. Mỗi bên ưanh chấp có quyền lựa chọn hai chuyên viên tham gia hội đồng trọng tài. Chủ tịch hội đồng trọng tài do các bên thoả thuận cử ra. Ngoài các quy định riêng liên quan đến thẩm quyền chuyên biệt và thành phần của toà, các vấn đề khác của Toà trọng tài đặc biệt tương tự như Toà trọng tài quốc tế về luật biển. Toà trọng tài quốc tế về Luật biển, ngoài việc cùng các cơ quan tài phán có thẩm quyền chung để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia, đã tạo được bước phát triển mới của luật quốc tế theo hướng, không dừng lại ở các nguyên tắc, quy phạm có tính chung chung mà đã phát triển đến chỗ hình thành nên các nguyên tắc, quy phạm chuyên biệt. Điều đó một mặt nâng cao vai trò điều chỉnh của các nguyên tắc, quy phạm luật quốc tế đối với các quan hê quốc tế, mặt khác, góp phần tăng cường, củng cố và duy trì sự hợp tác giữa các quốc gia cũng như giữa các chủ thể khác của luật quốc tế.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)