Về bản chất, tội danh này xâm phạm trực tiếp đến chế độ nghĩa vụ quân sự do Nhà nước quy định, một chế độ pháp luật có vai trò cốt lõi trong việc xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân. Nghĩa vụ quân sự không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng, cao quý của công dân Việt Nam, được hiến pháp và các văn bản pháp luật bảo vệ. Do đó, mọi hành vi cố ý cản trở việc thực hiện nghĩa vụ này đều bị coi là hành vi chống lại chính sách quốc phòng của quốc gia, đe dọa đến an ninh và lợi ích chung.

Các văn bản pháp luật khác như Luật Nghĩa vụ quân sự và các nghị định hướng dẫn chi tiết như Nghị định số 13/2016/NĐ-CP hay Nghị định số 122/2006/NĐ-CP là nền tảng quan trọng để xác định các quy trình, thủ tục hành chính liên quan đến nghĩa vụ quân sự. Những văn bản này cung cấp cơ sở để xác định thế nào là một hành vi "cản trở" việc thực hiện nghĩa vụ quân sự một cách hợp pháp.

Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là một phần của hệ thống pháp luật hình sự nhằm bảo vệ trật tự an ninh quốc gia. Việc quy định tội danh này thể hiện quyết tâm của Nhà nước trong việc duy trì và đảm bảo sự công bằng, công khai trong công tác tuyển quân, qua đó củng cố sức mạnh của Quân đội nhân dân. Hành vi phạm tội này không chỉ làm suy yếu khả năng quốc phòng mà còn gây mất cân bằng trong lực lượng vũ trang.

Sự tồn tại của tội danh này còn có ý nghĩa răn đe, giáo dục pháp luật, nhắc nhở mỗi công dân về trách nhiệm của mình đối với việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hành vi cản trở không chỉ đơn thuần là làm gián đoạn một quy trình hành chính (đăng ký, gọi nhập ngũ) mà còn làm suy yếu sức mạnh của quân đội bằng cách làm giảm số lượng và chất lượng tân binh. Điều này có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng hơn là "gây ra sự mất cân bằng trong lực lượng vũ trang" và "ảnh hưởng đến khả năng quốc gia thực hiện các hoạt động quân sự cần thiết để bảo vệ lãnh thổ và lợi ích quốc gia".

Vậy, Nghĩa vụ quân sự là gì? Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là gì?

Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ bắt buộc của mỗi công dân. Nghĩa vụ quân sự được quy định tại Điều 4 Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015 . Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự do người có năng lực thích nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước đối với việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của công dân bằng hành vi ngăn cản, gây khó khăn cho người khác thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc gây khó khăn, cản trở cho người có trách nhiệm trong việc tổ chức, thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, việc gọi chụp ngũ, có tập trung huấn luyện.

Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là hành vi làm cho việc thực hiện nghĩa vụ quân sự không thể thực hiện được hoặc là gây ra sự khó khăn chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của công dân.

Theo quy định của pháp luật độ tuổi đi nghĩa vụ quân sự là từ đủ 18 tuổi trở lên đến hết 25 tuổi. Riêng trường hợp công dân được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết năm 27 tuổi.

Có thể thấy rằng thực tế vì nhiều lý do khác nhau các công dân khi đến độ tuổi đi nghĩa vụ quân sự sẽ tìm mọi cách để không phải đi nghĩa vụ quân sự, những trường hợp này có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.

 

1. Các yếu tố cấu thành tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự

Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ được cấu thành bởi 04 yếu tố sau:

Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm này là chế độ nghĩa vụ quân sự do Nhà nước quy định, cụ thể là việc thực hiện các quy định về đăng ký, gọi nhập ngũ và gọi tập trung huấn luyện. Tội phạm xâm phạm trực tiếp đến hoạt động quản lý Nhà nước về quốc phòng, an ninh, gây ảnh hưởng xấu đến việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và củng cố sức mạnh của quân đội.

Mặc dù Điều 335 chỉ đề cập đến việc "cản trở," nhưng bản chất của tội phạm này là xâm phạm đến an ninh quốc gia và sự ổn định của lực lượng vũ trang. Một hành vi cản trở có thể gây ra những tổn thất lớn về mặt quốc phòng, làm ảnh hưởng đến việc tuyển chọn đủ số lượng và chất lượng công dân nhập ngũ, qua đó làm suy yếu sức mạnh quân sự của đất nước. 

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là "bất kỳ người nào" có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Quy định này cho thấy phạm vi áp dụng rộng rãi, không giới hạn bởi chức vụ, quyền hạn hay tư cách của chủ thể. Điều này bao gồm không chỉ công dân thông thường mà còn cả những người thân trong gia đình (cha, mẹ, anh, chị) hoặc bất kỳ ai khác có hành vi cản trở.

Quy định "bất kỳ người nào" là chủ thể cho thấy tính nghiêm trọng và phạm vi rộng của tội phạm này, khác biệt với một số tội danh khác có chủ thể đặc biệt (như Điều 334). Trong khi Tội làm trái quy định về thực hiện nghĩa vụ quân sự (Điều 334) chỉ áp dụng cho người có chức vụ, Điều 335 lại bao trùm cả những người không có chức vụ mà vẫn cố tình cản trở, ví dụ như bố mẹ ngăn cấm con đi nghĩa vụ, bạn bè xúi giục trốn tránh. Điều này phản ánh chính sách hình sự của Nhà nước là trừng trị mọi hành vi phá hoại chế độ nghĩa vụ quân sự, bất kể người thực hiện hành vi đó là ai.

Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Động cơ của người phạm tội có thể xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau như vụ lợi cá nhân hoặc một số động cơ khác. Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc.

Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện qua hành vi "cố ý cản trở việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện". Hành vi "cản trở" được hiểu là hành vi ngăn cản, gây khó khăn cho việc thực hiện các quy trình này. Các thủ đoạn cản trở rất đa dạng, bao gồm: tổ chức cho công dân trốn khỏi địa phương, giúp người khác gây thương tích để không đủ điều kiện sức khỏe, hoặc dùng tiền bạc, lợi ích vật chất để tác động.

Hành vi cản trở thực hiện bằng mọi thủ đoạn, phương pháp khác nhau như: Tổ chức cho con em mình trốn khỏi địa phương, giúp người khác gây thương tích để trốn tránh nghĩa vụ quân sự...

Hậu quả không phải là dấu hiện bắt buộc của tội danh này.

Khi xem xét để định tội danh, cần xem xét kỹ các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Nếu không có đủ các yếu tố trên sẽ không phải chịu các hình phạt được quy định tại Điều 335 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

 

2. Hình phạt đối với tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự

Nội dung Điều 335 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội danh này như sau:

Điều 335. Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự

1. Người nào cố ý cản trở việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện, thě bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc trong thời chiến, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 không có thay đổi nào liên quan đến điều 335.

2.1 Các khung hình phạt áp dụng với tội danh

Khung hình phạt tại khoản 1:​ Người phạm tội bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Cải tạo không gian giữ là hình phạt không làm tước bỏ hoặc hạn chế các quyền tự do về thân thể, không bắt buộc người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội, mà được giao cho cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội giám sát, giáo dục nhằm phát huy vai trò của quần chúng nhân dân tham gia vào việc cải tạo, giáo dục người phạm tội.

Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.

Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù.

Khung hình phạt tại khoản 2: Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc trong thời chiến, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội là trường hợp người có chức vụ, quyền hạn sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi phạm tội.

Việc xác định người phạm tội có lợi dụng chức vụ, quyền hạn hay không, cũng tương tự như trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn đối với tội làm trái các quy định về thực hiện nghĩa vụ quân sự, nhưng trường hợp này là lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Nếu so sánh giữa hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự thì hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự nguy hiểm hơn, vì người phạm tội có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, còn hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự chỉ có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Phạm tội trong thời chiến là phạm tội trong khoảng thời gian đang có chiến tranh ở nước ta.

2.2. Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ

Ngoài các tình tiết tăng nặng được quy định trong khoản 2 Điều 335, việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ chung của Bộ luật Hình sự cũng có vai trò quan trọng trong việc lượng hình. Các tình tiết này thường được xem xét trong bối cảnh cụ thể của vụ án.

Mặc dù Thông tư số 143/2023/TT-BQP của Bộ Quốc phòng quy định về xử lý kỷ luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam, các nguyên tắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong văn bản này có thể được dùng làm khuôn khổ tư duy cho các cơ quan tố tụng. Các tình tiết giảm nhẹ có thể bao gồm: người vi phạm tự nguyện khắc phục hậu quả, thành thật hối lỗi, tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng hoặc có nhiều thành tích trong công tác, học tập. Ngược lại, các tình tiết tăng nặng bao gồm: vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc có hành vi trốn tránh, che giấu vi phạm sau khi phạm tội.

Các nguyên tắc xử lý kỷ luật trong quân đội thường có sự tương đồng về logic với các nguyên tắc xử lý hình sự, đặc biệt là khi các vi phạm có liên quan đến nghĩa vụ quân sự. Do đó, việc tham chiếu các tình tiết giảm nhẹ/tăng nặng từ văn bản này có thể giúp các cơ quan tố tụng áp dụng các nguyên tắc chung của BLHS một cách nhất quán hơn.

2.3. Phân biệt với Vi phạm hành chính

Ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự trong lĩnh vực nghĩa vụ quân sự được xác định rõ ràng, thể hiện chính sách phân tầng xử lý của Nhà nước. Cụ thể, các hành vi vi phạm lần đầu, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật, ví dụ như Nghị định 218/2025/NĐ-CP. Mức phạt hành chính có thể lên tới 75 triệu đồng đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ.

Ngược lại, việc xử lý hình sự đối với Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự (Điều 332) chỉ được áp dụng khi công dân đã bị xử phạt hành chính mà vẫn tiếp tục trốn tránh, thể hiện ý chí cố tình coi thường pháp luật. Điều này tạo ra "ngưỡng" để chuyển từ xử lý hành chính sang hình sự. Đối với Tội cản trở (Điều 335), hành vi có dấu hiệu cấu thành tội phạm có thể bị truy cứu hình sự ngay lập tức mà không cần phải trải qua giai đoạn xử phạt hành chính trước đó, do tính chất nguy hiểm của hành vi này là tác động từ bên ngoài để phá hoại chế độ nghĩa vụ quân sự.

2.4 Tham khảo hình phạt thông qua bản án thực tiễn

Bản án 21/2020/HSST: Bản án 21/2020/HSST ngày 08/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N là một ví dụ điển hình cho việc áp dụng Điều 335 BLHS trong thực tiễn. Vụ án này liên quan đến hai bị cáo: Nguyễn Quốc T., một bác sĩ và Đặng Mạnh C. Bị cáo T., là bác sĩ, đã lợi dụng chuyên môn của mình để giúp công dân A. trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Cụ thể, thông qua C., T. đã đưa thuốc Efferalgan Codein cho A. sử dụng trước khi khám sức khỏe để làm sai lệch kết quả xét nghiệm nước tiểu, khiến A. có kết quả dương tính với chất ma túy và không đủ điều kiện nhập ngũ. Hành vi của T. và C. nhằm mục đích trục lợi vật chất. Tòa án đã tuyên cả hai bị cáo phạm tội "Cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự".

Vụ án này là một ví dụ rõ ràng về sự chồng chéo và mâu thuẫn giữa Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự (Điều 335) và Tội làm trái quy định về thực hiện nghĩa vụ quân sự (Điều 334). Hành vi của bác sĩ T. có thể bị coi là "lợi dụng chức vụ, quyền hạn" để "làm trái quy định", một dấu hiệu cấu thành của cả hai tội danh.

Sự không rõ ràng này đã dẫn đến "nhiều quan điểm trái chiều" trong việc áp dụng pháp luật. Cụ thể, khung hình phạt của Khoản 2 Điều 335 (2-5 năm tù) lại cao hơn khung cơ bản của Điều 334 (cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm). Điều này gây ra khó khăn trong việc lựa chọn tội danh và áp dụng mức hình phạt phù hợp cho người có chức vụ, quyền hạn phạm tội.

Hiện tại, Tòa án nhân dân Tối cao chưa có án lệ hoặc văn bản hướng dẫn chính thức nào để giải quyết các vướng mắc này. Điều này đặt ra yêu cầu cần sớm có hướng dẫn cụ thể để đảm bảo sự thống nhất và hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật.

 

3. Phân biệt Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự với các tội danh liên quan

Các tội danh liên quan đến nghĩa vụ quân sự có thể dễ gây nhầm lẫn về chủ thể và tính chất hành vi. Phân tích dưới đây làm rõ sự khác biệt giữa ba tội danh chính: Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự (Điều 335), Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự (Điều 332) và Tội làm trái quy định về thực hiện nghĩa vụ quân sự (Điều 334).

Tiêu chí Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự (Điều 335) Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự (Điều 332) Tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự (Điều 334)
Chủ thể

Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Người có chức vụ, quyền hạn.

Mặt khách quan

Hành vi cố ý ngăn cản, gây khó khăn cho người khác trong việc đăng ký, gọi nhập ngũ, hoặc tập trung huấn luyện.

Hành vi không chấp hành lệnh gọi đăng ký, gọi nhập ngũ, hoặc tập trung huấn luyện.

Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái các quy định về nghĩa vụ quân sự.

Điều kiện cấu thành tội phạm

Tội phạm cấu thành hình thức. Tội danh hoàn thành ngay khi có hành vi cản trở.

Tội phạm cấu thành có điều kiện. Đòi hỏi đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xóa án tích.

Tội phạm cấu thành hình thức.

Khung hình phạt cơ bản

Phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

 

4. Thực trạng áp dụng pháp luật và Giải pháp hoàn thiện

Trong thực tiễn, việc áp dụng Điều 335 BLHS còn tồn tại một số vướng mắc nhất định. Khó khăn lớn nhất là sự chồng chéo, thiếu thống nhất trong việc phân định ranh giới giữa các tội danh, đặc biệt là giữa Tội cản trở (Điều 335) và Tội làm trái quy định (Điều 334). Mặc dù các bản án đã được tuyên, nhưng sự mâu thuẫn về khung hình phạt và yếu tố chủ thể vẫn gây ra nhiều tranh luận và khó khăn cho các cơ quan tố tụng.

Một vấn đề khác là sự thiếu vắng các văn bản hướng dẫn chi tiết từ các cơ quan tư pháp cấp cao như Tòa án nhân dân Tối cao. Việc thiếu các văn bản này khiến cho việc giải quyết các vụ án phức tạp, đặc biệt là những trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở, gặp nhiều trở ngại và có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật thiếu nhất quán.

Để giải quyết những vướng mắc nêu trên, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan. Trước hết, kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sớm ban hành các nghị quyết hoặc công văn hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng Điều 335 BLHS, đặc biệt là mối quan hệ với Điều 334. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự để làm rõ hơn các quy định, tránh sự chồng chéo giữa các tội danh. Ví dụ, cần xem xét lại tình tiết tăng nặng "lợi dụng chức vụ, quyền hạn" trong Điều 335 để thống nhất với chủ thể đặc biệt của Điều 334.

Việc xử lý hiệu quả tội phạm không chỉ giới hạn ở việc xử phạt hình sự mà còn phải kết hợp chặt chẽ với các biện pháp giáo dục, tuyên truyền, và chính sách xã hội. Tình trạng trốn tránh nghĩa vụ quân sự có thể xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về pháp luật hoặc những khó khăn kinh tế, xã hội. Do đó, cần có một chiến lược tổng thể bao gồm:

  • Tăng cường tuyên truyền, giáo dục: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về nghĩa vụ quân sự cho thanh niên và người dân bằng các hình thức sáng tạo (ví dụ: các cuộc thi tìm hiểu pháp luật). Điều này sẽ nâng cao nhận thức và sự tự giác chấp hành của công dân.
  • Nâng cao trách nhiệm: Cần nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, của các cơ quan, tổ chức ở địa phương trong công tác tuyển quân, đảm bảo quy trình tuyển chọn diễn ra công bằng, minh bạch.
  • Hỗ trợ sau khi xuất ngũ: Triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ cho hạ sĩ quan, binh sĩ khi xuất ngũ, bao gồm việc giải quyết việc làm, học nghề và đảm bảo cuộc sống. Việc này sẽ tạo động lực, giảm thiểu nguyên nhân trốn tránh do lo ngại về tương lai sau khi hoàn thành nghĩa vụ.

Kết luận

Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự theo Điều 335 Bộ luật Hình sự là một tội danh nguy hiểm, trực tiếp đe dọa đến nền quốc phòng toàn dân và trật tự quản lý Nhà nước. Việc xử lý hiệu quả tội phạm này trong thực tiễn đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ và toàn diện. Một mặt, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật, giải quyết những vướng mắc còn tồn tại. Mặt khác, phải đẩy mạnh các biện pháp tuyên truyền, giáo dục và có chính sách hỗ trợ thỏa đáng, tạo điều kiện thuận lợi nhất để công dân thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng và cao quý của mình. Chỉ khi kết hợp chặt chẽ các giải pháp này, chúng ta mới có thể củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Trên đây là những tư vấn của Luật Minh Khuê về mức xử phạt đối với tội cản trở thực hiện nghĩa vụ quân sự. Nếu quý bạn đọc còn vướng mắc, xin vui lòng liên hệ với tổng đài luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi ngay theo số: 1900.6162 để được hỗ trợ nhanh chóng nhất. Rất mong nhận được sự hợp tác.  Trân trọng./.