Tuy nhiên, việc thực thi các quyền này phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Để đảm bảo trật tự, kỷ cương và bảo vệ lợi ích chung, Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 đã quy định một tội danh đặc thù: “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” tại Điều 331. Việc phân tích chuyên sâu điều luật này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi các hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ, đặc biệt trên không gian mạng, diễn biến phức tạp và gây ra những hậu quả khó lường.

 

1. Khái niệm pháp lý liên quan đến Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ

1.1. Khái niệm về quyền dân chủ

Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng, tự do và quyền con người. Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định. Là hình thức tổ chức chính trị của Nhà nước, dân chủ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, như vậy dân chủ là một phạm trù lịch sử, cũng như các biểu hiện khác của hình thái ý thức xã hội, dân chủ do tồn tại xã hội quyết định, do phương thức sản xuất vật chất của xã hội quyết định; và do đó, trình độ của phương thức sản xuất khác nhau tất yếu dẫn đến sự khác nhau về trình độ dân chủ (mức độ thực hiện dân chủ và dân chủ hoá trong xã hội). Dân chủ biến đổi và phát triển không ngừng cả về chất và lượng trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người. Tuy nhiên, dân chủ với tính cách là giá trị xã hội, là thành quả giá trị nhân văn trước hết được sinh ra từ phương thức tổ chức hợp tác sản xuất vật chất và cấu kết cộng đồng giữa người với người thì đã tồn tại ngay từ xã hội cộng sản nguyên thuỷ. Và do đó, với ý nghĩa này, dân chủ sẽ tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của con người, là một trong những phương thức tồn tại của con người ngay cả khi Nhà nước đã biến mất.

Quyền dân chủ chính là những yêu sách, nhu cầu nội tại của mỗi cá nhân, với tư cách là công dân đối với các nguyên tắc, các chuẩn mực pháp lý dân chủ trong một thiết chế xã hội dân chủ nhằm bảo đảm sự tham gia một cách tự do, bình đẳng và đầy đủ vào các công việc của Nhà nước và toàn bộ đời sống xã hội của con người. Quyền dân chủ thực chất chính là yêu sách về bình đẳng chính trị và xã hội của mỗi cá nhân trong mối quan hệ với Nhà nước, bảo đảm cho cá nhân khả năng hành động theo ý mình, cho sự tự quyết định và làm chủ ý chí của mình mà không có hại cho người khác, và do đó cho khả năng giải phóng toàn diện những năng lực bản chất người của mỗi cá nhân. Ph.Ăngghen khẳng định: “Từ sự bình đẳng của mọi người với tư cách là những con người, rút ra cái quyền có một giá trị ngang nhau về chính trị và xã hội cho tất cả mọi người, hay ít ra là cho công dân trong một nước, hay cho mọi thành viên trong xã  hội”

1.2.  Khái niệm về quyền tự do

Tự do là khái niệm dùng trong triết học chính trị mô tả tình trạng khi cá nhân không chịu sự ép buộc, có cơ hội để lựa chọn và hành động theo đúng với ý chí nguyện vọng của chính mình. Nó là tiền đề sinh ra chủ nghĩa tự do theo hướng ý thức hệ.

Trên thế giới hiện nay, không phải mọi người đều đã được hưởng quyền tự do; ở nhiều nơi nhà cầm quyền tuy tuyên bố thừa nhận và bảo đảm quyền tự do cho mọi người, nhưng không bảo đảm được hoặc không muốn bảo đảm như tuyên bố; cuộc đấu tranh vì tự do ở nhiều nơi trên thế giới vẫn đang diễn ra gay gắt. Nhân loại đã suy tư về khái niệm tự do từ hàng ngàn năm nay. Khi xã hội càng mất tự do thì người ta càng suy tư nhiều về tự do. Tình trạng mất tự do vẫn đang diễn ra trầm trọng. Vì thế, khái niệm tự do đang được sử dụng và bàn luận rộng rãi trong sách báo hàng ngày không chỉ từ các nhà chính trị, nhà khoa học, mà còn từ những người bình thường.

Tuy nhiên, khi sử dụng và bàn luận về tự do, không phải ai cũng có quan niệm đúng đắn. Trong quan niệm của hầu hết mọi người, tự do là nhu cầu tinh thần quan trọng và cơ bản; là một giá trị; thậm chí là giá trị cao quý nhất; là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội. Một số người trong thực tế có thể khước từ tự do (“chạy trốn tự do”, không muốn có tự do), nhưng điều đó không có nghĩa rằng đối với họ tự do không phải là giá trị; bởi vì tình trạng tự do mà họ khước từ là thứ tự do còn tồi tệ hơn tình trạng nô lệ mà họ đang chịu đựng.

1.3. Quyền tự do theo Hiến pháp 2013

Chủ Nghĩa Xã Hội (CNXH) phải tự do hơn CNTB. Khi nào đạt được mức độ tự do cao hơn tự do của xã hội tư bản phát triển thì khi ấy mới có thể có CNXH hiện thực. Việt Nam ta tuy đã định hướng tiến lên CNXH nhưng vẫn còn đang chịu ảnh hưởng nặng nề tư tưởng phong kiến trong vấn đề tự do. Phải ra sức khắc phục hạn chế này mới đúng là theo định hướng XHCN. Còn làm ngược lại, hạn chế tự do, thì đó không phải là con đường tiến lên CNXH, mà ngược lại, đó là con đường rời bỏ mục tiêu lý tưởng về CNXH. Đã có những quan niệm rất sai lầm và lạc hậu khi cho rằng tự do là kiểu tư bản phương Tây, còn CNXH thì hiểu như “trại lính”. Nếu CNXH mà vậy thì chẳng ai yêu thích và họ sẽ từ bỏ nó. Cuộc đấu tranh đòi quyền tự do không khi nào lạc hậu, không bao giờ là không cần thiết, luôn là vấn đề của thời đại, cũng là vấn đề thời sự, đáng quan tâm hàng đầu, vì nó hợp quy luật, hợp lòng người, hợp tâm lý, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Với lẽ ấy, tự do – bản thân nó – đã là tất yếu. Tự do là tất yếu.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tự do là mục đích tiếp theo, mục đích chính của độc lập. Độc lập là để có tự do. Độc lập, bản thân nó là sự tự do cho một dân tộc; đồng thời là để và phải đem lại tự do cho nhân dân, cho từng người. Hồ Chí Minh đã từng nói, nếu nước độc lập mà dân không được tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chưa có ý nghĩa gì. Khi lập nước, Người đã đưa các thành tố “dân chủ” và “tự do” vào tên gọi của nước Việt Nam mới.

Ở Việt Nam, từ khi thành lập cho đến nay, Nhà nước luôn luôn tôn trọng các quyền tự do cơ bản của công dân và coi đó là một trong những nguyên tắc xây dựng pháp luật của Nhà nước. Nhà nước ta đã ghi nhận các quyền tự do cơ bản của công dân trong Hiến pháp và pháp luật. Mỗi công dân được quyền tự mình lựa chọn và thực hiện các quyền tự do cơ bản của mình trong khuôn khổ của pháp luật mà không có sự ngăn cản, hạn chế nào. Các quyền con người, quyền tự do của công dân Việt Nam do pháp luật quy định gồm có: Quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền có nơi ở hợp pháp, quyền ,tự do cư trú, tự do kinh doanh, tự do đi lại, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình,tự do nghiên cứu, sáng tác, tự do lựa chọn nghề nghiệp mưu sinh, tự do hôn nhân…

Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.

Trong nhà nước pháp quyền, một mặt, pháp luật bảo đảm cho sự phát triển tự do tối đa của nhân dân, mặt khác pháp luật xây dựng và duy trì xã hội trật tự, ổn định, trong đó không chỉ mỗi công dân, mỗi cá nhân, mà bản thân nhà nước và những người đứng đầu chính quyền cũng phải tôn trọng pháp luật. Hai mặt dân chủ và pháp luật trong Nhà nước pháp quyền gắn bó hữu cơ, làm tiền đề tồn tại cho nhau và tạo nên bản chất của Nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhà nước bảo đảm quyền tự do dân chủ cho công dân nhưng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do dân chủ để để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của nhân dân”.

 

2. Cấu thành Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước

2.1. Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Tội danh này có khách thể đa dạng và phức tạp, bao gồm cả lợi ích công và lợi ích tư. Cụ thể, Điều 331 bảo vệ:

  • Lợi ích của Nhà nước: Bao gồm uy tín, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, và các chính sách, chủ trương của Nhà nước. Hành vi phạm tội gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các lợi ích này.
  • Quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân: Các hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ có thể gây ra những thiệt hại cụ thể cho tổ chức, cá nhân, bao gồm cả thiệt hại về vật chất (tài sản) và phi vật chất (uy tín, danh dự).

Sự song hành của hai nhóm khách thể này là một đặc trưng pháp lý nổi bật của Điều 331. Không giống như các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Chương XIII Bộ luật Hình sự) chỉ hướng tới việc bảo vệ Nhà nước và chế độ , Điều 331 còn mở rộng phạm vi bảo vệ đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tư nhân. Điều này làm cho tội danh có phạm vi áp dụng rộng rãi hơn, bao trùm nhiều hành vi vi phạm khác nhau, từ gây rối trật tự công cộng đến xúc phạm danh dự cá nhân trên mạng xã hội.

Tội phạm này xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thông qua việc lợi dụng các quyền tự do dân chủ của mình do Hiến pháp quy định.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

 Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, được thể hiện qua hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.

Hành vi khách quan: Hành vi cấu thành tội phạm là hành vi "lợi dụng" các quyền tự do dân chủ. Người phạm tội không chỉ đơn thuần thực hiện hành vi xâm phạm mà còn sử dụng chính các quyền được Hiến pháp và pháp luật thừa nhận như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội để làm phương tiện phạm tội. Các hành vi cụ thể có thể là:

  • Lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí để tuyên truyền chống phá Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.
  • Sử dụng mạng xã hội để đăng tải, chia sẻ thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
  • Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để tổ chức các hoạt động gây rối trật tự công cộng.
  • Lập hội, tổ chức hoạt động trái pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia.

Cấu thành hình thức: Một điểm đáng chú ý của tội danh này là nó có cấu thành hình thức. Điều này có nghĩa là tội phạm được coi là hoàn thành ngay khi người phạm tội thực hiện hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm các lợi ích được bảo vệ, mà không cần hậu quả cụ thể đã xảy ra. Tính chất này đặc biệt phù hợp trong môi trường số, nơi một hành vi đăng tải thông tin sai sự thật có thể gây ra hiệu ứng tiêu cực nhanh chóng, lan truyền rộng rãi, gây hoang mang dư luận. Tuy nhiên, việc thiếu các tiêu chí định lượng về mức độ "xâm phạm" khiến cho việc xác định tội phạm đôi khi mang tính chủ quan, phụ thuộc vào nhận định của cơ quan tố tụng về ranh giới giữa một hành vi phê bình hợp pháp và một hành vi vi phạm pháp luật.

2.3. Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm thể hiện thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi và hậu quả của nó.

Lỗi: Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả sẽ xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

Mục đích: Khác với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, yếu tố mục đích "chống chính quyền nhân dân" không phải là dấu hiệu bắt buộc của Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ. Nếu trong quá trình điều tra, cơ quan tố tụng xác định người phạm tội thực hiện hành vi với mục đích chống Nhà nước, họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội khác thuộc Chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia, như Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 117 BLHS). Điều này tạo ra một "phạm vi trung gian" trong hệ thống pháp luật hình sự, cho phép Nhà nước xử lý các hành vi gây hại cho trật tự xã hội mà không nhất thiết phải "chính trị hóa" vụ án.

Là lỗi cố ý (trực hoặc gián tiếp).  Động cơ, mục đích không là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Vì thế, nếu hành vi này kèm theo mục đích “chống chính quyền nhân dân” thì phải bị truy cứu về tội phạm tương ứng.

2.4. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, phải đáp ứng các điều kiện về độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự có thể là chủ thể của tội danh này, bởi khung hình phạt cao nhất của tội danh là 7 năm tù, thuộc nhóm tội phạm nghiêm trọng.

 

3. Hình phạt tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân

Nội dung Điều 331 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội danh này như sau:

Điều 331. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Phân tích khung hình phạt của Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ là trọng tâm của báo cáo, nhằm làm rõ cách thức pháp luật hình sự Việt Nam điều chỉnh và xử lý các hành vi vi phạm.

3.1. Khung hình phạt cơ bản (Khoản 1)

Khoản 1 Điều 331 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Đây là khung hình phạt áp dụng cho các hành vi có mức độ nghiêm trọng thông thường, chưa gây ra hậu quả đặc biệt. Hình phạt được lựa chọn phụ thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi, thái độ của người phạm tội và các tình tiết khác của vụ án.

3.2. Khung hình phạt tăng nặng (Khoản 2)

Khoản 2 Điều 331 quy định mức hình phạt nặng hơn đối với trường hợp phạm tội có tính chất nghiêm trọng hơn: Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Tình tiết "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" là dấu hiệu định khung tăng nặng quan trọng. Tuy nhiên, một điểm bất cập lớn trong thực tiễn là sự thiếu hụt các văn bản hướng dẫn cụ thể từ Tòa án Nhân dân Tối cao về cách thức định lượng tình tiết này. Điều này dẫn đến việc xác định mức độ ảnh hưởng mang tính chủ quan và có thể không nhất quán giữa các vụ án khác nhau. Sự thiếu rõ ràng này có thể gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng trong việc áp dụng pháp luật một cách công bằng và minh bạch.

 

4. So sánh tội danh với cac tội phạm liên quan

4.1. Phân biệt với Tội làm nhục người khác (Điều 155) và Tội vu khống (Điều 156)

Khách thể: Đây là điểm khác biệt cốt lõi. Tội làm nhục người khácTội vu khống chỉ xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân. Trong khi đó, Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ có khách thể rộng hơn, bao gồm cả lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, và cá nhân.

Mặt khách quan: Tội làm nhục được thực hiện bằng hành vi xúc phạm nghiêm trọng. Tội vu khống được thực hiện bằng hành vi bịa đặt hoặc loan truyền thông tin sai sự thật. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ được thực hiện bằng hành vi "lợi dụng" các quyền được pháp luật bảo vệ. Hành vi này có tính chất công khai, rộng rãi hơn.

Ranh giới trong không gian mạng: Trong bối cảnh mạng xã hội, một hành vi vu khống hoặc xúc phạm một cá nhân có thể bị xử lý theo Điều 155 hoặc 156. Tuy nhiên, nếu hành vi đó được thực hiện thông qua việc lợi dụng các nền tảng mạng xã hội, gây ra ảnh hưởng rộng khắp, gây mất trật tự và an ninh xã hội, nó có thể được chuyển sang xử lý theo Điều 331. Điều này cho thấy tính "hấp thụ" của Điều 331, có thể bao trùm các hành vi vi phạm nhỏ hơn khi chúng đạt đến một mức độ nguy hiểm nhất định đối với trật tự quản lý hành chính.

4.2. Phân biệt với Tội tuyên truyền chống Nhà nước (Điều 117)

Sự phân biệt giữa hai tội danh này là đặc biệt quan trọng.

  • Mặt chủ quan: Yếu tố mục đích là điểm khác biệt quan trọng nhất. Tội tuyên truyền chống Nhà nước có dấu hiệu bắt buộc là "nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Mục đích này là động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi. Tội lợi dụng quyền tự do dân chủ không yêu cầu mục đích này.
  • Khách thể: Tội tuyên truyền chống Nhà nước xâm phạm trực tiếp đến an ninh quốc gia, một khách thể đặc biệt và nghiêm trọng. Trong khi đó, Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm trật tự quản lý hành chính, dù có thể gián tiếp ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.

Việc phân loại Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ vào Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, thay vì Chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia, thể hiện một ý đồ pháp lý rõ ràng. Điều này cho phép Nhà nước có một công cụ pháp lý "ít chính trị hơn" để xử lý các hành vi gây hại cho lợi ích quốc gia mà không phải đối mặt với các cáo buộc về việc "đàn áp chính trị".

Để khắc phục các bất cập và nâng cao hiệu quả áp dụng Điều 331, một số kiến nghị sau có thể được xem xét:

  • Sửa đổi điều luật: Nghiên cứu bổ sung yếu tố "hậu quả nghiêm trọng" vào cấu thành tội phạm, chuyển tội danh từ cấu thành hình thức sang cấu thành vật chất. Điều này sẽ giúp việc định tội danh khách quan hơn, vì nó đòi hỏi phải có hậu quả thực tế xảy ra.
  • Ban hành văn bản hướng dẫn: Tòa án Nhân dân Tối cao cần ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể và rõ ràng để định lượng các thuật ngữ như "xâm phạm lợi ích" và "ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội". Điều này sẽ giúp đảm bảo tính minh bạch, công bằng và thống nhất trong thực tiễn xét xử.
  • Nâng cao nhận thức pháp luật: Cần tăng cường công tác truyền thông, giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức cho người dân về ranh giới giữa quyền tự do và nghĩa vụ, đặc biệt là trách nhiệm của mỗi cá nhân trên không gian mạng.

Kết luận

Điều 331 Bộ luật Hình sự Việt Nam là một điều luật quan trọng, đóng vai trò bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức và cá nhân khỏi các hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ. Khách thể của tội phạm bao gồm cả lợi ích công và lợi ích tư, tạo ra một phạm vi áp dụng rộng rãi và linh hoạt. Mặc dù có vai trò thiết yếu trong việc duy trì an ninh, trật tự xã hội, đặc biệt trong bối cảnh không gian mạng phát triển, Điều 331 vẫn còn nhiều bất cập về mặt kỹ thuật lập pháp và tính định tính trong quy định, dẫn đến những thách thức trong thực tiễn xét xử.

Việc nghiên cứu, sửa đổi và ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết cho Điều 331 là cần thiết trong tương lai. Mục tiêu là để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, từ đó cân bằng một cách hài hòa giữa việc bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân và duy trì ổn định chính trị - xã hội.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.