1. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức ?

Thưa Luật sư! Ngày 11 tháng 9 năm 2015 qua sự giới thiệu của một người môi giới, tôi mua một chiếc xe tải nhỏ với giá 60 triệu đồng, anh ta xin 1 triệu. Nghĩ là tiền dịch vụ nên tôi đồng ý, tôi nói với bố mẹ, bố mẹ không đồng ý. Anh môi giới này nói với bố mẹ rằng chủ xe bán trong vòng 1 tháng sẽ mua lại xe vì anh ta đang chạy cầm bằng để khoán cho mấy người mua bán xe.
Bố mẹ tôi đã đồng ý đưa tiền cho tôi và nói khi nào tôi lên coi xe thì đồng ý mua. mẹ của anh môi giới đó nói với tôi bán 1 tháng rồi cầm bằng khoảng 1 tỷ sẽ mua lại trong thời gian đợi người bán cho tôi. Anh đó nói vợ anh ta đang cầm giấy tờ lên uỷ ban công chứng. Chiều thứ 6, lúc 2h vợ anh nói người trên ủy ban đi học hết rồi nên không ai làm công chứng, xong bảo tôi đưa 60triệu. Họ viết cho tôi 1 tờ giấy bán có 2 vợ chồng ghi tên người làm chứng nhận tiền, sáng thứ 7 ngày hôm sau sẽ đi làm công chứng nhưng tôi không chịu. Họ nói đưa sổ hộ khẩu cho tôi và tôi đã đồng ý. Tới ngày sau họ vẫn chưa đi làm công chứng.
Ngày 19.9.2015 tôi tới và họ nói giấy tờ xe bị công an giao thông bắt, họ viết cho tôi 1 cam kết trong vòng 30 ngày sẽ làm công chứng. Hôm nay tôi lại lên gặp và nói đưa xe hoặc trả lại tôi 60 triệu và họ lại hứa. Giờ tôi muốn kiện những người này tội lừa đảo có tổ chức có được không?
Tôi xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua tổng đài 24/7: 1900.6162

Trả lời:

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Để cấu thành tội lừa đảo, người thực hiện phải dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Do đó, trong trường hợp này, để có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự, bạn phải chứng minh nhóm người này nhận tiền (60 triệu) nhưng không thực hiện việc mua xe, công chứng giấy tờ. Cụ thể, Điều 139 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy, ​để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi vi phạm phải đáp ứng các yếu tố: “dùng thủ đoạn gian dối” và “chiếm đoạt tài sản của người khác”. Cụ thể, 4 yếu tố cấu thành tội phạm (Khách thể của tội phạm; Chủ thể của tội pham; Mặt khách quan của tội phạm; Mặt chủ quan của tội phạm) được thể hiện như sau:

1. Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

2. Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối. Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt.

a. Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Ở đây thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

Do đó, thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm 2 dấu hiệu là: Thứ nhất, người phạm tội đã có hành vi gian dối như bằng lời nói, hành động hoặc những thủ đoạn khác nhằm cung cấp những thông tin sai lệch về sự việc (nói dối, trái sự thật, nói không thành có, nói ít thành nhiều, tẩy xóa con số để được nhiều hơn),… ; Thứ hai, chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm tưởng, tin vào các thông tin không đúng sự thật đó nên đã tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản cho người phạm tội. Thỏa mãn 2 yếu tố này mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

b. Ngoài ra, còn có dấu hiệu khác về giá trị tài sản chiếm đoạt, đó là giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên.

4. Mặt chủ quan của tội phạm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định

Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng ( như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

2. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị xử lý như thế nào ?

Kính chào luật sư, em có một số thắc mắc mong luật sư giải đáp giúp em. Anh trai của em đã lừa đảo chiếm đoạt 330 triệu đồng của người khác qua facebook. Ban đầu, anh bị người bị hại đưa tới công an quận 12- TP. Hồ Chí Minh. Tại đây, anh của em đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình; nhưng do vụ việc xảy ra tại quận Nam Từ Liêm nên được chuyển về thụ lý tại đây ?

Trước đó, gia đình em đã có gửi lại cho người bị hại số tiền 70 triệu đồng. Khoảng 20 ngày trước, công an quận Nam Từ Liêm có vào địa phương làm việc với anh của em. Đến 1 tuần trước, nhà em có biết được là công an đã ra quyết định khởi tố, hồ sơ đã được chuyển sang viện kiểm sát và trong vòng 7 đến 10 ngày sẽ vào địa phương đọc lệnh bắt. Luật sư cho em hỏi, là tại sao trong trường hợp này, gia đình em không được thông báo về quyết định khởi tố. Làm như vậy là có đúng thủ tục tố tụng hay chưa ?

Nếu như có nhiều hơn 2 tình tiết giảm nhẹ, thì anh của em có được giảm án hay không, và mức án có thể nằm trong khoảng nào, có thể được hưởng án treo hay không. Anh của em phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, có ba là thương binh, ông nội là liệt sĩ. Việc gia đình em trả lại cho người bị hại 70 triệu có được xem là hành vi khắc phục hậu quả hay không, có được tính là tình tiết giảm nhẹ không ?

Em cảm ơn luật sư nhiều !

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về lừa đảo, gọi:1900.6162

Luật sư trả lời:

Như thông tin bạn cung cấp, anh trai bạn đã bị khởi tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng gia đình bạn lại không được thông báo về quyết định khởi tố. Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 (Văn bản mới: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)quy định về quyết định khởi tố bị can như sau:

Điều 126. Khởi tố bị can

1. Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.

2. Quyết định khởi tố bị can ghi rõ: thời gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình của bị can; bị can bị khởi tố về tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm.

Nếu bị can bị khởi tố về nhiều tội khác nhau thì trong quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ từng tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng.

3. Sau khi khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải chụp ảnh, lập danh chỉ bản của bị can và đưa vào hồ sơ vụ án.

4. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can đó cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn việc khởi tố. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho Cơ quan điều tra.

5. Trong trường hợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.

Sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà Viện kiểm sát phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

6. Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định khởi tố bị can của mình hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can quy định tại Điều 49 của Bộ luật này. Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải giao ngay cho người đã bị khởi tố. Việc giao nhận các quyết định nói trên phải lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này.

Như vậy, căn cứ quy định trên thì cơ quan điều tra có trách nhiệm phải giao ngay quyết định khởi tố bị can cho anh trai bạn sau khi có quyết định. Nếu cơ quan điều tra không giao quyết định khởi tố cho anh trai bạn là đã thực hiện chưa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Số tiền mà anh bạn đã chiếm đoạt của người bị hại là 330 triệu đồng nên áp dụng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009, (Văn bản mới: Luật hình sự năm 2015) khung hình phạt của anh trai bạn sẽ là từ bảy năm đến mười lăm năm tù:

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

Hình phạt cụ thể đối với anh trai bạn sẽ do Hội đồng xét xử xem xét dựa trên các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ để áp dụng. Trong đó, việc gia đình bạn chủ động trả lại cho người bị hại số tiền 70 triệu cũng được xem là tình tiết giảm nhẹ vì đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu qủa do hành vi phạm tội gây ra.

Ngoài ra, để anh trai bạn được hưởng án treo thì phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, đó là:

6.1. Chỉ cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì;
Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá ba năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo.
b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng;
c) Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của BLHS. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên;
d) Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Căn cứ vào các điều kiện nêu trên, bạn có thể xác định được anh trai bạn có khả năng được hưởng án treo hay không.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Lừa đảo mua bán máy tính qua mạng xã hội ?

Kính chào Công ty Luật Minh Khuê !Tôi đặt hàng ở trên mạng mua một chiếc máy tính laptop sony vaio giá 40 triệu đồng, họ bảo chuyển khoản qua điện thoại cho họ và họ sẽ đưa máy tính cho tôi, họ bảo họ là cửa hàng bán máy tính ở thành phố A, tôi tin lời họ nên đã chuyển hết tiền qua ngân hàng, nhưng rồi sau đó tôi không thấy họ chuyển lại tiền chotôi nên tôi đã dùng điện thoại và lên facebook nhắn tin cho họ nhưng tất cả đều không liên lạc được và đều bị chặn hết, sau này tôi mới biết người này không có cửa hàng bán máy tính mà chỉ là cửa hàng kinh doanh đồ ăn sáng.
Cho tôi hỏi hành vi của người này có phải là lừa đảo không và tôi có thể trình báo công an không ?
Cám ơn.

Luật sư tư vấn:

1. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các yếu tố cấu thành tội này là như thế nào?

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể các yếu tố cấu thành của tội này như sau:

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự

Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

2. Các căn cứ để khởi tố vụ án hình sự là như thế nào?

Theo Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 thì các căn cứ để khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

- Tố giác của cá nhân;

- Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

- Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

- Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

- Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

- Người phạm tội tự thú.

3. Đơn trình báo phải viết như thế nào ?

Như vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn cần phải làm đơn trình báo lên công an điều tra hình sự cấp quận/huyện nơi bạn đang cư trú để trình báo về sự việc này. Bạn có thể tham khảo mẫu đơn trình báo công an như sau:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Púc

ĐƠN XIN TRÌNH BÁO

Kính gửi: CÔNG AN QUẬN/HUYỆN……., TỈNH/THÀNH PHỐ…..

Tôi tên là :………………………………………………………............

CMND số : …………………………………………………….….........

ĐKHKTT : ………………………………………………………..........

Chỗ ở hiện tại : ...............................................................................

Tôi làm đơn này xin trình báo với quý cơ quan việc như sau:

Thứ nhất:

Vào ngày …………………………………………………………………

……………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………

Tiếp theo,

………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………

Thứ hai:

Ngày …/…./…..

………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

Thấy có nhiều dấu hiệu bất thường nên ………………………………

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

Như vậy, hành động của……… chứng tỏ chị ta đã có ý định lừa đảo tôi và nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.

Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của tôi, đồng thời, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại đến quyền tài sản của công dân ……………..

Nay tôi đề nghị Qúy cơ quan xem xét các vấn đề sau đây:

…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

Xin chân thành cảm ơn.

Tài liệu kèm theo:

-.................................

Tỉnh/ Thành phố, Ngày .......... Tháng.........năm..........

Người làm đơn

(Ký, ghi rõ họ tên)

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật Hình sự ?

Luật Minh Khuê xin giải đáp những thắc mắc về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của luật Hình sự:

Trả lời:

Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Về cấu thành tội phạm:

Theo đó: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.

Về mặt khách quan: phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

Về mặt chủ quan: lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.

Khách thể: là quyền sở hữu tài sản của người khác.

Chủ thể: là bất cứ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Trình tự thủ tục tiến hành được quy đinh trong Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11 của Quốc hội như sau:

Nếu bạn có đủ căn cứ về hành vi của người đó là lừa đảo thì bạn và những người có liên quan có thể đến cơ quan có thẩm quyền để tố giác tội phạm theo Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định như sau:

"Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.

Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."

Bạn có thể tham khảo mẫu đơn tố giác tại đây.

"Điều 86. Nhiệm vụ giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm.

Trong thời hạn không quá hai mươi ngày kể từ khi nhận được tố giác hoặc tin báo, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác hoặc tin báo có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng."

Sau khi tiếp nhận tin báo của, cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác minh với sự việc của bạn. Nếu có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát sẽ tiến hành khởi tố vụ án hình sự nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn. Nếu sau khi điều tra xác minh thấy không có dấu hiệu phạm tội thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Chào luật sư! Hiện tại mình có ông bác thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh đang bị ông A ở Hà Nội lừa đảo chiếm đoạt 1 tỷ với hành vi lừa là giúp giải quyết vụ kiện đất đai giữa ông bác với người khác qua sự giới thiệu của anh B. Ông A có viết giấy biên nhận ký tên, và có sự làm chứng ký tên của anh B. Nhờ công ty tư vấn xem có khởi kiện được không? Và muốn công ty hỗ trợ thì thế nào?

Khi gửi đơn tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền phải gửi kèm các giấy tờ chứng cứ chứng minh. Cụ thể trường hợp này bạn gửi giấy biên nhận do ông A viết và ký tên, có sự làm chứng ký tên của anh B để chứng minh hành vi lừa đảo của ông A là có thật.

Thưa luật sư! Em có mua một cái IPhone 5S tại Thế giới di động của công ty tài chính Home Credit. Thời gian trả góp là 6 tháng. Nhưng em mới chỉ đóng được 1 tháng. Hiện tại em đang nợ 5 tháng. Tất cả các giấy tờ lúc làm thủ tục em đều cung cấp chính xác. Vậy luật sư cho em hỏi nếu công ty Home Credit khởi kiện thì em có phải đi tù vì hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Cảm ơn luật sư!

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn chỉ đóng được 1 tháng và nợ 5 tháng. Trường hợp ngoài thời hạn 6 tháng mà bạn không thanh toán tiền đủ tiền cho công ty tài chính Home Credit thì bạn sẽ bị phạt vi phạm hợp đồng. Và ngoài việc bạn phải trả số nợ gốc đó cho công ty bạn còn phải trả thêm một khoản lãi trên nợ gốc mà bạn đã nợ. Trường hợp bạn không trả tiền cho công ty, thì công ty đó có thể khởi kiện để đòi lại tiền. Hành vi của bạn không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thưa luật sư, Tôi xin hỏi tổng đài tư vấn một việc như sau: Tôi có một Spa và một ngày đen đủi có một vị khách hàng tên Đinh Thị H đến Spa của tôi để làm mặt và lâu dần thì đã tạo được mối quan hệ gần gũi với tôi. Và thấy tôi làm việc vất vả thì đã mở lời nói giúp tôi và bảo tôi góp vốn buôn xe Camry cũ của Nhật, do bạn của chị ta gửi từ bên đó về. Và tôi đã tin chị ta, rồi đi vay tiền để góp vốn cùng chị ta, số tiền tôi đưa cho chị ta là 850 triệu đồng, sau khi chị ta nhận được số tiền đó thì không thấy xe pháo đâu hết và tôi điện thoại thì chị ta tắt máy hoặc không nghe. Vậy có phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ạ?

Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Nếu ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trường hợp này, giá trị của tài sản bị chiếm đoạt chỉ cần từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 thì người kia sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Còn nếu việc giao và nhận hoàn toàn ngay thẳng dựa trên hợp đồng (vay, mượn, thuê..) và sự tín nhiệm, sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc đánh tráo, hoặc gian dối là bị mất, không trả lại tài sản do không có khả năng hoàn trả vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc, cầm đồ…thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, trường hợp này thì giá trị của tài sản bị chiếm đoạt phải từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Chào luật sư, luật sư cho em hỏi. Nội dung: Em có mua lại một chiếc xe ô tô từ một người tên A. Hiện tại người A có bán cho cho em với giá 500 triệu đồng bao gồm tiền nợ ngân hàng, em phải trả 250 triệu tiền mặt, còn lại 250 triệu tiền ngân hàng em có trách nhiệm trả. Trong quá trình mua bán hai bên chỉ viết giấy tay và có hai người làm chứng, không có công chứng của cơ quan có thẩm quyền. Mua bán xong em giao xe cho một người tên B phụ trách quản lý xe, mọi vấn đề về hỏng hóc, bảo trì, nhân công, công việc, thanh toán tiền ngân hàng 250 triệu còn lại, bên B chịu hoàn toàn trách nhiệm hàng tháng bên B có trách nhiệm đưa em 5 triệu. Vậy luật sư cho em hỏi: Khi bên A hoặc bên B có ý muốn chiếm đoạt xe thì em có thể dựa vào giấy mua bán viết tay để khởi kiện không?

Khi bên A hoặc bên B có hành vi chiếm đoạt tài sản là chiếc xe. Thì bên còn lại có thể làm đơn tố giác bên kia đến cơ quan Công an về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Và trường hợp này có thể sử dụng các giấy tờ mua bán, các hóa đơn chứng từ mua bán để chứng minh hành vi lừa đảo của bên kia.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

5. Tư vấn về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng ?

Thưa luật sư! Tôi gửi đơn từ tỉnh Vũng Tàu.Tình hình là cách đây mấy ngày tôi có mua hàng online trên mạng. Qua thỏa thuận người bán yêu cầu tôi phải chuyển khoản qua trước khi nhận được tiền người bán mới chuyển hàng qua bưu điện cho tôi.
Tôi được người bán cung cấp số tài khoản thuộc chi nhánh Bà Tô-Xuyên Mộc. Sau khi chuyển vào thẻ atm ngân hàng Sacombank cho người đó số tiền 1 triệu đồng thì gọi lại số điện thoại thuê bao.Tới thời điểm bây giờ là 1 tháng rồi. Tôi muốn hỏi hiện tại tôi có giữ số tài khoản, số điện thoại của người đó tôi có giữ giấy chứng nhận tôi có chuyển khoản cho người đó và cả những tin nhắn giao dịch của 2 bên thì tôi đã đủ chứng cứ và có thể kiện người đó ra tòa chưa ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: P.T.H

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi:1900.6162

Trả lời:

Quy định của pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung và lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng nói riêng như sau:

Khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm"

Trong trường hợp của bạn, nếu người cho bạn số tài khoản để bạn chuyển khoản ngay từ đầu đã có ý định chiếm đoạt số tiền mà bạn gửi và không giao hàng thì hành vi đó cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì có hành vi gian dối xảy ra trước hành vi chiếm đoạt. Còn nếu sau khi bạn chuyển khoản, người đó mới có ý định không giao hàng cho bạn mà chiếm đoạt luôn số tiền mà bạn đã chuyển thì hành vi đó có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Khoản 1 Điều 139 BLHS sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định:

Điều 48. Chứng cứ.
1- Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự do Bộ luật này quy định mà cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.
2- Chứng cứ được xác định bằng:
a) Vật chứng;
b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
c) Kết luận giám định;
d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu khác.

Hiện nay bạn đang có số tài khoản, số điện thoại của người đó , giấy chứng nhận bạn có chuyển khoản cho người đó và cả những tin nhắn giao dịch của 2 bên. Đây có thể được coi là chứng cứ. Bởi chứng cứ trong tố tụng hình sự là những gì có thật, có liên quan đến vụ án, được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

Chứng cứ được xác định bằng:

- Vật chứng;

- Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

- Kết luận giám định;

- Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

"Điều 100. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

1. Tố giác của công dân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức;

3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;

5. Người phạm tội tự thú"

Như vậy, trong trường hợp của bạn, hành vi của người cung cấp tài khoản cho bạn đã có dấu hiệu của tội phạm. Bạn có thể yêu cầu khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bạn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?