1. Tội trộm cắp tài sản và trách nhiệm hình sự?

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự : 1900.6162

Xin chào luật Minh Khuê, Em có câu hỏi mong luật sư giải đáp như sau: Thưa luật sư, Luật sư Em muốn hỏi một vấn đề liên quan đến luật trộn cắp tài sản xin luật sư giúp đỡ ạ. Em có một người bạn phạm tội trộm cắp:
Chiều ngày 7 bạn của em cùng 2 người bạn nữa đã trộm 1 con trâu trận của người dân buộc ở ngoài đồng cỏ đem đi bán nhưng không bán được vì lò tiêu thụ bảo con trâu đã báo chính quyền can thiệp .nên bạn em cùng 2 người bạn đã để trâu lại và bỏ chạy. Con trâu trị giá 150 triệu đồng. Hiện giờ trâu đã được trả về chính chủ. Gia đình bạn em đã thỏa thuận với chủ trâu là đền bù số tiền trên và đã được sự nhất trí của 2 bên (bên trộm và bên bị trộm) và không đưa đơn khởi tố. Nhưng bấy giờ đang bị công an huyện tạm giam để điều tra. Phạm tội như vậy có bị tù không ạ?

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017:

"Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Tài sản là bảo vật quốc gia;

g) Tái phạm nguy hiểm.

Đối với tội trộm cắp tài sản thì hành vi chiếm đoạt đã thể hiện mục đích chiếm đoạt của người phạm tội và dấu hiệu chiếm đoạt trong cấu thành cơ bản của tội trộm cắp tài sản là chiếm đoạt được. Chính vì vậy, tội trộm cắp tài sản hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.

Việc đánh giá người phạm tội đã chiếm đoạt được hay chưa phải dựa vào đặc điểm, vị trí tài sản bị chiếm đoạt. Nếu tài sản chiếm đoạt gọn nhỏ thì coi là đã chiếm đoạt được khi người phạm tội đã dấu được tài sản trong người; nếu vật chiếm đoạt không thuộc loại nói trên thì coi chiếm đoạt được khi đã mang được tài sản ra khỏi khu vực bảo quản; nếu vật chiếm đoạt là tài sản để ở những nơi không hoàn thành khu vực bảo quản riêng thì coi là đã chiếm đoạt được khi đã dịch chuyển tài sản khỏi vị trí ban đầu.

Như vậy bạn của bạn được xác định là cấu thành tội trộm cắp tài sản, mặc dù đã có sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại với người bị mất trộm tuy nhiên tội trộm cắp tài sản lại không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại.

Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Do đó bạn của bạn vẫn bị truy tố về tội trộm cắp tài sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 150 triệu đồng. Bạn của bạn bị truy tố tại điểm e khoản 2 điều 173 với mức phạt tù là 2 năm đền 7 năm. Tuy nhiên đã có sự thỏa thuận bồi thường và khắc phục thiệt hại, bạn của bạn có thể được áp dụng tình tiết giảm nhẹ mức hình phạt.

Điều 51 Bộ luật hình sự có quy định về tình tiết giảm nhẹ như: Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm; Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;...

Hơn nữa Điều 54 Bộ luật hình sự quy định quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

Hiện giờ trâu đã được trả về chính chủ, gia đình đã thỏa thuận với chủ trâu là đền bù số tiền trên và đã được sự nhất trí của 2 bên, không đưa đơn khởi tố thì đây chỉ có thể được xác định là tình tiết giảm nhẹ, bạn của bạn vẫn bị khởi tố trách nhiệm hình sự vì hành vi vi phạm của mình.

Trân trọng.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn cách thức trình báo công an khi bị mất trộm tài sản ? Mức phạt hành vi trộm cắp

2. Bị tịch thu xe do xe có nguồn gốc là xe ăn trộm?

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự: 1900.6162

Thưa Luật sư! Cháu đã mua một chiếc xe Exciter giá 22 triệu từ 1 người lạ ở TP HCM. Sau khi cháu mua xe khoảng 20 phút thì bị công an hình sự ập vào bắt và đòi kiểm tra xe trong khi xe cháu đang đậu trên lề đường. Sau khi kiểm tra xác minh thì họ cho cháu biết là xe có giấy tờ giả và sau khi thẩm định thì được biết xe đã bị đục số khung số sườn và họ tạm giữ xe của cháu.
Chuyện xảy ra đã được 1 tháng rồi chú ạ. Hiện tại chú công an chịu trách nhiệm vụ việc của cháu bảo là xe của cháu 1 tuần nữa sẽ có quyết định tịch thu và giao cho công an giao thông. Chú luật sư cho cháu hỏi, cháu là người bị hại vậy sau khi xác minh rằng xe ko có vấn đề trộm cắp hay tranh chấp tại sao không giải quyết và trả xe cho cháu. Trong khi tên bán xe cho cháu là người có tội tại sao công an không truy tìm và bắt hắn, như thế cháu có quyền khiếu nại không và đi đâu để khiếu nại và cách thức khiếu nại thế nào ạ!
Luật sư tư vấn:

Như bạn đã trình bày thì hiện tại cơ quan công an đang xử phạt bạn đối với hai hành vi vi phạm đó là sử dụng giấy tờ giả và hành vi vi phạm đục số khung số sườn. Và theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 thì việc tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính chỉ được thực hiện khi:

Điều 26. Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hoá, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính, được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức.

Như vậy, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là một hình thức xử phạt bổ sung và chỉ được áp dụng đối với những vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân. Qua những gì bạn đã trình bày thì hành vi đục số khung số sườn thì không phải do bạn thực hiện mà là người đã bán chiếc xe cho bạn nên bạn không hề có lỗi cố ý trong trường hợp này. Còn đối hành vi sử dụng giấy tờ giả, nếu bạn chứng minh được mình không hề biết đó là giấy tờ giả, tức chứng minh được mình không có lỗi cố ý trong trường hợp này thì bạn có thể khiếu nại quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

Căn cứ khoản 1, điều 7 Luật khiếu nại 2011:

Điều 7. Trình tự khiếu nại

1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Theo quy định trên thì bạn có thể khiếu nại lần đầu đến thủ trưởng cơ quan của người ra quyết định hành chính xử phạt bạn, hoặc có thể khởi kiện ra tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính. Nếu sau khi giải quyết khiếu nại lần đâu mà bạn không đồng ý với quyết định giải quyết của họ hoặc quá thời hạn mà thủ trưởng cơ quan của người ra quyết định xử phạt không giải quyết thì bạn có thể khiếu nại lần thứ hai đến cơ quan cấp trên trực tiếp hoặc khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục hành chính. Và cách thức khiếu nại, đó là bạn sẽ làm đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp đến những cơ quan được đề cập ở trên. Nếu bạn tự làm đơn khiếu nại thì nội dung đơn sẽ phải có đủ các phần sau: phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

Còn nếu bạn khiếu nại trực tiếp, tức đến cơ quan của người ra quyết định xử phạt bạn khiếu nại thì người tiếp nhận sẽ hướng dẫn bạn viết đơn khiếu nại.

Trân trọng.

>> Xem thêm:  Xe trộm cắp đem đi cầm cố chủ hộ kinh doanh đi tiêu thụ phải ngồi tù ?

3. Nhân viên lấy sổ sách, chứng từ kế toán có phải là trộm cắp tài sản không?

Thưa luật sư, Luật sư em xin hỏi ở công ty em có một nhân viên làm việc ở bộ phận xưởng sản xuất (công nhân) sắp nghỉ việc có vào phòng kế toán lấy các tài liệu về sổ sách chứng từ, báo cáo tài chính và các giấy tờ khác khi chưa được sự cho phép của nhân viên phòng kế toán và đã trả lại nhưng không trình bày được mục đích lấy các tài liệu trên.
Vậy em xin hỏi hành vi trên có bị coi là trộm cắp tài sản của doanh nhiệp không? người phụ trách kế toán của đơn vị có cần lập biên bản nêu rõ vụ việc đề phòng trường hợp các thông tin quan trọng của đơn vị bị dò rỉ gây thiệt hại nghiêm trọng cho đơn vị không?

Trả lời:

Trường hợp, nhân viên làm việc ở bộ phận xưởng sản xuất (công nhân) sắp nghỉ việc có vào phòng kế toán lấy các tài liệu về sổ sách chứng từ, báo cáo tài chính và các giấy tờ khác khi chưa được sự cho phép của nhân viên phòng kế toán và đã trả lại nhưng không trình bày được mục đích lấy các tài liệu trên có được coi là trộm cắp tài sản của doanh nghiệp. Hành vi này có thể bị người sử dụng lao động áp dụng hình thức sa thải theo khoản 1 Điều 126 Bộ luật lao động 2012.

Điều 126. Áp dụng hình thức xử lý kỉ luật sa thải

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

2. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này;

3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn cách xử lý khi bị vu oan tội trộm cắp tài sản ?

4. Mua phải hàng ăn trộm có bị công an tịch thu không?

Thưa luật sư, Em có mua 1 bộ máy tính để dùng, giá rẻ và được biết là hàng ăn trộm (Nhưng người bán cho E bảo là bán hộ). Sau này bị công an thu giữ và mới được biết là người bán hộ đó chính là kẻ cắp. Em hỏi xem như thế có lấy lại được tiền của kẻ đã bán cho Em hàng đó không? Nếu bị khởi tố thì bị ra sao?

Trả lời:

Chào Bạn, Điều Bạn đang lo lắng là hoàn toàn chính đáng. Bởi:

- Nếu thực sự bạn biết được là hàng ăn cắp nhưng bạn vẫn mua thì bạn đã vi phạm phạm luật về việc tiêu thụ tài sản do phạm pháp mà có, sẽ bị xử lý trách nhiệm theo quy định của Bộ luật hình sư.
Nếu bị khởi tố thì có thể bị áp dụng khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với quy định như sau:

Điều 323. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

d) Thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 10 năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

2/- Nếu bạn không hề biết được hàng đó do ăn cắp lúc mua thì bạn phải chứng minh với cơ quan chức năng về việc này để không phải chịu trách nhiệm hình sự về việc tiêu thụ hàng do phạm tội mà có.

Trong trường hợp này, bạn có thể đề nghị cơ quan chức năng xem xét yêu cầu kẻ ăn cắp trả lại tiền bạn đã mua máy vi tính nhầm.

Trân trọng./.

5. Câu trộm điện lưới bị xử phạt như thế nào?

Thưa luật sư, Tôi có thực hiện hành vi câu trộm điện lưới quốc gia, tôi muốn biết hành vi của tôi bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 12 của Nghị định 134/2013/NĐ-CP ngày 17/10/2013 quy định về xử phạt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực điện lực, an toàn đập thủy điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thì hành vi trộm cắp điện dưới mọi hình thức để phục vụ mục đích sinh hoạt sẽ bị phạt tiền, cụ thể như sau:

a) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp điện với số lượng dưới 1.000kWh;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp điện với số lượng từ 1.000kWh đến dưới 2.000kWh;

c) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp điện với số lượng từ 2.000kWh đến dưới 4.500kWh;

d) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp điện với số lượng từ 4.500kWh đến dưới 6.000kWh;

đ) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp điện với số lượng từ 6.000kWh đến dưới 8.500kWh;

e) Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp điện với số lượng từ 8.500kWh đến dưới 11.000kWh;

g) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp điện với số lượng từ 11.000kWh đến dưới 13.500kWh;

h) Phạt tiền từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp điện với số lượng từ 13.500kWh đến dưới 16.000kWh;

i) Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp điện với số lượng từ 16.000kWh đến dưới 18.000kWh;

k) Phạt tiền từ 45.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp điện với số lượng từ 18.000kWh đến dưới 20.000kWh

Đối với trường hợp trộm cắp điện từ 20.000 kWh trở lên được chuyển hồ sơ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 44 Nghị định này, nhưng sau đó có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án của cơ quan có thẩm quyền hoặc trả lại hồ sơ thì áp dụng thời hạn xử phạt quy định tại Điều 63 Luật xử lý vi phạm hành chính, mức phạt tiền quy định tại Điểm k Khoản 9 Điều này và biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điểm d Khoản 12 Điều này.

Ngoài hình thức xử phạt chính, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện dùng để vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 5 và Khoản 9 Điều này; hoặc bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau:

"a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi quy định tại Điểm a Khoản 3 và Khoản 5 Điều này;

b) Buộc nộp ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền bất hợp pháp có được đối với hành vi quy định tại Khoản 6 và Khoản 7 Điều này;

c) Buộc sử dụng các thiết bị đáp ứng đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với hành vi quy định tại Điểm b Khoản 8 Điều này;

d) Buộc bồi thường toàn bộ số tiền bị thiệt hại đối với hành vi quy định tại Điểm a Khoản 5 và Khoản 9 Điều này."

Do đó, cơ quan điện lực xử phạt bạn như vậy là chưa đúng với pháp luật.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự qua Email lienhe@luatminhkhue.vn hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162. Trân trọng./.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê