- 1. Cấu thành tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người
- 1.1. Khách thể của tội phạm
- 1.2. Mặt khách quan của tội phạm
- 1.3. Chủ thể của tội phạm
- 1.4. Mặt chủ quan của tội phạm
- 2. Khung hình phạt với tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người
- 2.1. Tình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
- 2.2. Tham khảo hình phạt qua các bản án thực tiễn
- 3. So sánh với các tội danh tương tự
- 3.1. So sánh với Tội vô ý làm chết người Điều 128 BLHS
- 3.2. So sánh với Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy (Điều 313)
- 3.3. Đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật
- Kết luận
Vậy, vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người là gì?
Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người được hiểu là hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định của pháp luật lao động về an toàn lao động (như không trang bị thiết bị bảo hộ lao động của công nhân xây dựng...), vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi có đông người.
An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động. Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động.
Nếu trong trường hợp phát sinh tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm điều tra xác minh nguyên nhân xảy ra tai nạn. Nếu tai nạn lao động xảy ra do người sử dụng lao động vi phạm các quy định của pháp luật an toàn, vệ sinh lao động thì tùy theo tính chất nghiêm trọng của vụ việc, hành vi của người sử dụng lao động có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Hành vi phạm tội được xác định khi chủ thể không tuân thủ các quy định, quy trình, tiêu chuẩn an toàn do Nhà nước ban hành, dẫn đến việc xảy ra những hậu quả nghiêm trọng. Tội danh này có cấu thành vật chất, nghĩa là chỉ khi hậu quả thực tế (như làm chết người, gây thương tích nghiêm trọng, hoặc thiệt hại tài sản) xảy ra thì hành vi vi phạm mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu hành vi vi phạm chưa gây ra hậu quả theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 295, thì hành vi đó sẽ không cấu thành tội phạm và chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.
Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người là tội danh được quy định tại Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Đã được sửa đổi tại Điểm 97 Điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:
“Điều 295. Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người
1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Làm chết 02 người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
d) Là người có trách nhiệm về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 12 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.
1. Cấu thành tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người
Tội danh này được cấu thành bởi 04 yếu tố pháp lý sau:
1.1. Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội danh này là những quy định của Nhà nước về an toàn lao động, vệ sinh lao động và an toàn ở nơi đông người. Đây là khách thể trực tiếp, bao gồm các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình, nội quy được ban hành để đảm bảo an toàn. Bên cạnh đó, tội phạm còn xâm hại gián tiếp đến tính mạng, sức khỏe, và tài sản của cá nhân, Nhà nước, tổ chức, là những giá trị được bảo vệ bởi pháp luật.
1.2. Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi phạm tội: Hành vi khách quan của tội phạm này được thể hiện ở việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không đúng quy trình các quy định về an toàn. Các hành vi cụ thể bao gồm:
- Vi phạm quy định về an toàn lao động: Không lắp đặt thiết bị an toàn, không kiểm tra, bảo dưỡng máy móc định kỳ, sử dụng thiết bị cũ, không trang bị hoặc trang bị không đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động cá nhân, không tổ chức huấn luyện an toàn lao động cho người lao động. Ví dụ, trong một vụ án tại TAND tỉnh Lâm Đồng, bị cáo đã vi phạm quy định an toàn lao động khi không thử tải trọng của dây kéo giếng trước khi sử dụng, dẫn đến tai nạn chết người.
- Vi phạm quy định về vệ sinh lao động: Không đảm bảo môi trường làm việc sạch sẽ, không kiểm tra các yếu tố có hại như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, hoặc không cung cấp đủ điều kiện vệ sinh cần thiết.
- Vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người: Không bố trí lối thoát hiểm, không kiểm tra an toàn phòng cháy chữa cháy, hoặc tổ chức các sự kiện, công trình mà thiếu các biện pháp an toàn cần thiết. Ngoài ra, theo Công văn số 45/TANDTC-PC, các hành vi vi phạm quy định về phòng, chống dịch bệnh COVID-19 gây thiệt hại về tài sản cũng có thể bị xử lý theo tội danh này.
Hậu quả: Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm. Chỉ khi hành vi vi phạm gây ra một trong các hậu quả nghiêm trọng dưới đây thì mới cấu thành tội phạm hình sự :
- Làm chết 01 người trở lên.
- Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể (TTCT) từ 61% trở lên.
- Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tổng tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.
- Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
Mối quan hệ nhân quả: Để truy cứu trách nhiệm hình sự, cần phải chứng minh được mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi vi phạm quy định an toàn và hậu quả nghiêm trọng đã xảy ra. Trong thực tiễn, đây là một trong những điểm phức tạp nhất. Ví dụ, trong Bản án số 58/2021/HS-ST, bị cáo Đỗ Đình C bị xử lý vì đã vi phạm nhiều quy định về an toàn lao động và điện lực, và hành vi không trang bị đồ bảo hộ cùng với việc lắp đặt giàn giáo không có rào chắn đã được xác định là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của nạn nhân do phóng điện. Tương tự, Bản án số 03/2025 của TAND tỉnh Quảng Ninh đã chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của bị cáo (ký giấy phép làm việc thiếu an toàn) với cái chết của người thợ hàn do bị điện giật.
1.3. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Bộ luật Hình sự không quy định thế nào là năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015 . Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình.
Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 thuộc Chương XXI Bộ luật hình sự. Như vậy chủ thể của tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên.
Như vậy, chủ thể của tội phạm này được thực hiện bởi người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định. Ngoài ra còn đòi hỏi phải có dấu hiệu của chủ thể đặc biệt đó là: phải là người có trách nhiệm trong việc chỉ đạo hoặc thực hiện các quy trình, quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và an toàn ở nơi đông người. Trường hợp không phải là người có trách nhiệm nêu trên mà là những người khác do vi phạm các quy định đó và gây hậu quả nghiêm trọng thì xem xét trách nhiệm hình sự ở các tội phạm tương ứng như: tội vô ý làm chết người, vô ý gây thương tích,…
1.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội danh này được thực hiện chủ yếu dưới hình thức lỗi vô ý. Lỗi vô ý bao gồm hai dạng:
- Vô ý vì cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hậu quả nguy hiểm của hành vi, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước.
- Vô ý vì quá tự tin: Người phạm tội thấy trước hậu quả nhưng tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.
Cần phân biệt rõ lỗi đối với hành vi và lỗi đối với hậu quả. Mặc dù hành vi vi phạm quy định có thể là cố ý (ví dụ: cố ý không trang bị bảo hộ để tiết kiệm chi phí), nhưng lỗi đối với hậu quả nghiêm trọng (chết người, thương tật) phải là vô ý. Nếu một người cố ý gây ra hậu quả chết người bằng cách vi phạm quy định an toàn, hành vi đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” (Điều 123) hoặc “Cố ý gây thương tích” (Điều 134), chứ không phải Điều 295.
2. Khung hình phạt với tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người
Các hình phạt đối với tội danh này được phân loại dựa trên mức độ nghiêm trọng của hậu quả đã xảy ra.
| Khoản | Mức hình phạt | Hậu quả tương ứng |
| Khoản 1 | Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. | a) Làm chết 01 người; b) Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 01 người với tỷ lệ TTCT ≥61%; c) Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên với tổng tỷ lệ TTCT từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. |
| Khoản 2 | Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. | a) Làm chết 02 người; b) Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên với tổng tỷ lệ TTCT từ 122% đến 200%; c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng; d) Là người có trách nhiệm về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người. |
| Khoản 3 | Phạt tù từ 06 năm đến 12 năm. | a) Làm chết 03 người trở lên; b) Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 03 người trở lên với tổng tỷ lệ TTCT ≥201%; c) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.500.000.000 đồng trở lên. |
| Khoản 4 | Phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. | Vi phạm quy định an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như quy định tại Khoản 3, nếu không được ngăn chặn kịp thời. |
Bên cạnh hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Hình phạt bổ sung này thường được áp dụng nhằm tước bỏ khả năng tiếp tục phạm tội trong lĩnh vực tương tự, đặc biệt đối với người có chức vụ, quyền hạn.
2.1. Tình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Tình tiết định khung tăng nặng quan trọng nhất là việc người phạm tội "là người có trách nhiệm về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người". Tình tiết này được quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 295, cho thấy vai trò và trách nhiệm chuyên biệt của những người quản lý, giám sát.
Các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng theo Điều 51 BLHS. Một số tình tiết thường được xem xét trong các vụ án này bao gồm: người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoặc phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong thực tiễn xét xử, các tình tiết này thường được Tòa án xem xét để giảm nhẹ hình phạt hoặc cho hưởng án treo, như trường hợp của bị cáo Đỗ Đình C trong Bản án số 58/2021/HS-ST.
2.2. Tham khảo hình phạt qua các bản án thực tiễn
Bản án số 37/2021/HS-PT (TAND tỉnh Lâm Đồng): Minh chứng cho sự cần thiết phải phân biệt tội danh. Tòa án đã bác bỏ kháng cáo về tội "Giết người" và khẳng định bị cáo chỉ phạm tội "Vi phạm quy định về an toàn lao động" vì hành vi không thử tải trọng của dây kéo là lỗi vô ý.
Bản án số 03/2025 (TAND tỉnh Quảng Ninh): Ví dụ điển hình về việc xác định "người có trách nhiệm." Hai bị cáo là Tổ trưởng và nhân viên giám sát an toàn đã bị truy tố chính vì đã ban hành giấy phép làm việc thiếu an toàn, dẫn đến hậu quả chết người.
Một trong những khó khăn lớn nhất trong thực tiễn là việc xác định một cách chính xác hành vi vi phạm. Các vụ tai nạn thường xảy ra trong bối cảnh phức tạp, đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao để điều tra. Thách thức tiếp theo là chứng minh mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi vi phạm và hậu quả, đặc biệt khi có lỗi hỗn hợp từ nhiều bên liên quan.
Thực tiễn xét xử cho thấy thường xuyên xảy ra tranh cãi về việc xác định lỗi vô ý (vô ý vì cẩu thả hay vô ý vì quá tự tin) và phân biệt nó với sự kiện bất ngờ. Ngoài ra, việc xác định chính xác thiệt hại tài sản và tỷ lệ tổn thương cơ thể trong trường hợp có nhiều người bị hại cũng là một vướng mắc phổ biến. Sự chồng chéo giữa Điều 295 và các tội danh khác như "Vô ý làm chết người" hoặc "Vi phạm quy định về PCCC" cũng gây ra những tranh cãi về định tội danh.
Sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật là một thực trạng đáng lo ngại. Một số vụ án phức tạp có thể bị hủy án sơ thẩm để điều tra lại, như trường hợp trong Bản án số 706/2017/HSPT của TAND TP Hà Nội. Sự thiếu thống nhất này không chỉ do văn bản pháp luật chưa đầy đủ mà còn do năng lực thực tiễn của cán bộ tố tụng còn hạn chế, đặc biệt khi phải áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành.
3. So sánh với các tội danh tương tự
3.1. So sánh với Tội vô ý làm chết người Điều 128 BLHS
| Tiêu chí | Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người (Điều 295) | Tội vô ý làm chết người (Điều 128) |
| Hành vi | Vi phạm một quy tắc an toàn chuyên biệt do Nhà nước ban hành (lao động, vệ sinh, nơi đông người). | Hành vi vô ý nói chung, không có quy tắc chuyên biệt điều chỉnh. |
| Khách thể | Xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước về an toàn công cộng; gián tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản. | Xâm phạm trực tiếp tính mạng con người. |
| Mặt chủ quan | Lỗi vô ý đối với hậu quả. | Lỗi vô ý đối với hậu quả. |
| Ý nghĩa phân biệt | Việc phân biệt hai tội danh này là sự áp dụng nguyên tắc |
3.2. So sánh với Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy (Điều 313)
Hai tội danh này có nhiều điểm tương đồng về mặt cấu thành tội phạm, khi đều thuộc nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, có cấu thành vật chất và các khung hình phạt tương ứng với hậu quả rất giống nhau. Điểm khác biệt cơ bản và quan trọng nhất nằm ở đối tượng của hành vi vi phạm. Điều 295 điều chỉnh hành vi vi phạm các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, và an toàn ở nơi đông người. Trong khi đó, Điều 313 (Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy) chỉ điều chỉnh hành vi vi phạm các quy định chuyên biệt về phòng cháy, chữa cháy. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, vi phạm an toàn lao động có thể đồng thời là vi phạm quy định PCCC, gây ra thách thức trong việc định tội danh.
3.3. Đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Sửa đổi luật, bổ sung hướng dẫn cần có sự hướng dẫn chi tiết, thống nhất từ các cơ quan tố tụng trung ương, có thể là dưới hình thức một Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hoặc Thông tư liên tịch của liên ngành tố tụng. Các văn bản này cần làm rõ các khái niệm, cách xác định lỗi vô ý, mối quan hệ nhân quả và tiêu chí để xác định "người có trách nhiệm". Việc rà soát và chuẩn hóa các quy định kỹ thuật về an toàn lao động, vệ sinh lao động trong các ngành nghề có nguy cơ cao cũng là một việc làm cấp thiết.
Tăng cường đào tạo cán bộ tố tụng để giải quyết các khó khăn trong thực tiễn, cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật an toàn cho điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán. Đồng thời, cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tố tụng với các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về lao động và y tế để đảm bảo việc xử lý vụ án được chính xác và kịp thời.
Ứng dụng công nghệ, cải thiện công tác giám định đầu tư vào công nghệ điều tra hiện trường và phục dựng vụ án sẽ giúp xác định hành vi và mối quan hệ nhân quả một cách khách quan hơn. Chuẩn hóa quy trình giám định, nâng cao năng lực của các Hội đồng Giám định Y khoa cũng là yếu tố then chốt để đảm bảo tính chính xác của chứng cứ, từ đó đưa ra quyết định pháp lý đúng đắn.
Kết luận
Tội "Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người" là một tội danh có tính chất nguy hiểm cao đối với xã hội. Tội phạm này không chỉ xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân mà còn đe dọa trực tiếp đến an toàn của cộng đồng và trật tự quản lý của Nhà nước.
Việc xử lý nghiêm minh, chính xác các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật là vô cùng cần thiết. Nó không chỉ đóng vai trò răn đe, phòng ngừa mà còn thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và cộng đồng.
Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản dưới luật, ban hành các hướng dẫn chi tiết, và tăng cường năng lực thực thi cho các cơ quan tố tụng. Việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính ngay từ đầu cũng là một giải pháp hữu hiệu để phòng ngừa các tai nạn nghiêm trọng có thể xảy ra.
Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về vấn đề trên. Nếu có bất kỳ vướng mắc nào xin vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua số điện thoại 1900.6162 để được hỗ trợ giải đáp. Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn !