Đây là tội phạm có cấu thành vật chất, chỉ khi hành vi thiếu trách nhiệm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng trên thực tế thì người phạm tội mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu không có hậu quả xảy ra, hành vi vi phạm chỉ có thể bị xử lý hành chính hoặc kỷ luật, tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm. Điều này nhấn mạnh rằng mục đích chính của Điều 308 là xử lý những hành vi gây ra thiệt hại cụ thể, chứ không chỉ là việc vi phạm các quy tắc quản lý thông thường. Điều này cho thấy, lập pháp đã nhận thức được tính chất đặc biệt của các loại tài sản này, nên đã tách biệt tội danh thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ (Điều 308) ra khỏi các tội danh thiếu trách nhiệm khác như tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước (Điều 179) hay tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 360). Việc quy định một điều luật riêng cho thấy mức độ quan trọng và nguy hiểm tiềm ẩn của việc quản lý các công cụ này, vì hậu quả của hành vi thiếu trách nhiệm có thể vượt xa thiệt hại về tài sản, trực tiếp đe dọa đến tính mạng, sức khỏe con người và an ninh quốc gia. Điều này làm cho hành vi thiếu trách nhiệm trong lĩnh vực này không chỉ đơn thuần là một sai sót nghiệp vụ, mà là một hành vi phạm pháp hình sự nghiêm trọng.  

 

1. Các yếu tố cấu thành tội phạm

1.1. Mặt khách thể 

Mặt khách thể của tội phạm là trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo quản vũ khí, vật liệu nổ, và công cụ hỗ trợ. Đồng thời, tội danh này cũng xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ liên quan đến tính mạng, sức khỏe, và tài sản của các cá nhân và tổ chức. Đối tượng tác động của tội phạm là các vật thể đặc biệt bao gồm vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, vũ khí thô sơ không thuộc phạm vi điều chỉnh của tội danh này.  

Ngoài ra, một điểm phức tạp trong cấu thành tội phạm này là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi thiếu trách nhiệm và hậu quả nghiêm trọng. Khác với nhiều tội phạm vật chất khác, tội danh này không có mối quan hệ nhân quả trực tiếp từ hành vi của người có trách nhiệm đến hậu quả. Cụ thể, hành vi thiếu trách nhiệm (A) làm cho vũ khí, vật liệu nổ rơi vào tay người khác (B), và người này mới là người trực tiếp sử dụng (C) và gây ra hậu quả (D). Điều này tạo ra một chuỗi nhân quả gián tiếp, đòi hỏi cơ quan tố tụng phải chứng minh được cả hai mắt xích: (1) hành vi thiếu trách nhiệm là nguyên nhân trực tiếp làm vũ khí lọt ra ngoài sự quản lý, và (2) hành vi của người thứ ba sử dụng vũ khí đó là hậu quả có thể dự đoán được từ việc thiếu trách nhiệm của người có nhiệm vụ. Sự phức tạp trong việc chứng minh mối liên kết nhân quả này có thể là một trong những rào cản lớn trong thực tiễn xét xử.  

1.2. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi thiếu trách nhiệm của người được giao nhiệm vụ quản lý, giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Hành vi này có thể là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định về quản lý, bảo quản, dẫn đến việc các vật thể nguy hiểm này lọt vào tay người khác và được sử dụng. Hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc của tội danh này. Cụ thể, hậu quả phải thỏa mãn một trong các điều kiện sau để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự :  

  • Làm chết 01 người trở lên.
  • Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên.
  • Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho từ 02 người trở lên, với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên.
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng trở lên.

1.3. Mặt chủ quan

Tội phạm này được thực hiện với lỗi vô ý. Lỗi vô ý bao gồm hai hình thức chính là lỗi vô ý do cẩu thả và lỗi vô ý vì quá tự tin.  

  • Lỗi vô ý do cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù pháp luật quy định người đó phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.  
  • Lỗi vô ý vì quá tự tin: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.  

Việc xác định chính xác lỗi vô ý là yếu tố then chốt để phân biệt tội danh này với các tội phạm có lỗi cố ý. Chẳng hạn, nếu người có trách nhiệm cất giữ vũ khí cố ý cho người khác mượn để thực hiện tội phạm, họ sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 308. Thay vào đó, họ có thể bị coi là đồng phạm của một tội danh khác, chẳng hạn như tội cướp tài sản hoặc tội giết người, tùy thuộc vào mục đích sử dụng vũ khí của người mượn. Tuy nhiên, ranh giới giữa lỗi vô ý do quá tự tin và lỗi cố ý gián tiếp là rất mỏng manh và khó chứng minh trong thực tế. Trong cả hai trường hợp, người phạm tội đều nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm. Sự khác biệt nằm ở yếu tố ý chí: người có lỗi vô ý không mong muốn hậu quả xảy ra và tin rằng có thể ngăn ngừa được, trong khi người có lỗi cố ý gián tiếp tuy không mong muốn nhưng vẫn bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Sự phân biệt này đòi hỏi các cơ quan tố tụng phải có nghiệp vụ điều tra, truy tố, xét xử chuyên sâu để thu thập đầy đủ chứng cứ, bao gồm cả các chứng cứ gián tiếp và lời khai, nhằm xác định chính xác ý thức chủ quan của người phạm tội.

1.4. Chủ thể tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, tức là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đã đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật. Yếu tố đặc biệt nằm ở chỗ người này phải là người được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý, giữ vũ khí, vật liệu nổ, hoặc công cụ hỗ trợ. Các đối tượng thường là quân nhân, công an, hoặc các nhân viên bảo vệ được trang bị các công cụ này trong khi thực hiện nhiệm vụ. Chẳng hạn, trường hợp một sĩ quan làm mất súng công vụ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm mất vũ khí quân dụng (Điều 414 BLHS) hoặc liên quan đến tội danh tại Điều 308 nếu có hậu quả phát sinh từ việc mất súng.

 

2. Căn cứ pháp lý và khung hình phạt

Nội dung Điều 308 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định như sau: 

Điều 308. Tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng

1. Người nào được giao vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ mà thiếu trách nhiệm để người khác sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người được giao vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ mà thiếu trách nhiệm để người khác sử dụng gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Tại điểm 110 Điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định như sau:

110. Sửa đổi, bổ sung Điều 308 như sau:

“Điều 308. Tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng

1. Người nào được giao vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ mà thiếu trách nhiệm để người khác sử dụng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.

2.1. Khung hình phạt của tội danh

Căn cứ Điều 308 BLHS 2015 tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng có các khung phạt sau:   

Khung 1: Mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung này áp dụng khi hậu quả gây ra là làm chết 01 người; gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho từ 02 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 121%; hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.  

Khung 2: Mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Khung này áp dụng khi hậu quả nghiêm trọng hơn, bao gồm làm chết 02 người; gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho từ 02 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 122% đến 200%; hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.  

3.2. Phân biệt với tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 360 BLHS)

Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng tại Điều 360 là một tội danh chung cho các hành vi thiếu trách nhiệm của người có chức vụ, quyền hạn gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Tiêu chí so sánh Tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 308) Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 360)
Đối tượng tác động

Vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ (tài sản đặc biệt).  

Bất kỳ lợi ích nào của Nhà nước, tổ chức, hoặc công dân (tài sản nói chung).  

Phạm vi áp dụng

Là tội danh đặc biệt, chỉ áp dụng cho các hành vi liên quan đến vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.  

Là tội danh chung, áp dụng cho các hành vi thiếu trách nhiệm không thuộc các điều luật đặc biệt khác.  

Theo nguyên tắc chung, khi một hành vi vi phạm thỏa mãn các yếu tố cấu thành của cả một tội danh đặc biệt và một tội danh chung, thì tội danh đặc biệt sẽ được ưu tiên áp dụng. Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị xử lý theo Điều 360 nếu không thuộc các trường hợp quy định tại các Điều 179, 308 và 376 BLHS. Điều này đảm bảo rằng các hành vi vi phạm có tính chất đặc thù và mức độ nguy hiểm cao như thiếu trách nhiệm đối với vũ khí sẽ được xử lý một cách tương xứng.

 

4. Câu hỏi thường gặp (FAQ)

Hỏi: Tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng được quy định tại điều khoản nào của pháp luật Việt Nam?

Trả lời: Tội danh này được quy định tại Điều 308 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025. Cần lưu ý rằng Điều 308 trong các bộ luật khác như Bộ luật Tố tụng dân sự hoặc Bộ luật Tố tụng hình sự có quy định về các vấn đề khác không liên quan đến tội danh này.  

Hỏi: Chủ thể của tội phạm này có phải là bất kỳ ai không?

Trả lời: Không. Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, là người có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ cụ thể trong việc quản lý, giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, ví dụ như cán bộ công an hoặc quân nhân.  

Hỏi: Hậu quả nghiêm trọng để truy cứu trách nhiệm hình sự là gì?

Trả lời: Hậu quả nghiêm trọng là một trong các trường hợp sau đây :  

  • Làm chết 01 người trở lên.
  • Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên.
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng trở lên.

Hỏi: Nếu người thiếu trách nhiệm làm mất súng nhưng không có hậu quả xảy ra thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 không?

Trả lời: Không. Vì đây là một tội phạm có cấu thành vật chất, chỉ khi hành vi thiếu trách nhiệm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng trên thực tế (như người khác sử dụng súng đó gây thương tích hoặc chết người) thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 BLHS. Tuy nhiên, người đó có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh khác, chẳng hạn như Tội làm mất vũ khí quân dụng (Điều 414 BLHS), tùy thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi.

 

5. Bình luận điều 308 Bộ luật hình sự

Thực tiễn xét xử và án lệ công khai về tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 308 BLHS) không phổ biến. Mặc dù có các bản án về tội vô ý làm chết người liên quan đến súng hoặc các bản án về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng nói chung, nhưng không có các phán quyết cụ thể nào được công bố rộng rãi liên quan trực tiếp đến Điều 308. Sự thiếu vắng các bản án công khai có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Một mặt, tội danh này có thể hiếm khi xảy ra trong thực tế. Mặt khác, do chủ thể của tội phạm thường là người trong lực lượng vũ trang hoặc các cơ quan công quyền, các vụ án có thể được xử lý nội bộ hoặc không được công khai rộng rãi do tính chất nhạy cảm. Sự thiếu hụt các án lệ này tạo ra một rào cản lớn cho việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật một cách thống nhất trên toàn quốc, gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng trong việc đưa ra quyết định chính xác trong các tình huống tương tự. Cụ thể, có các khó khăn, vướng mắc như sau:

  • Khó khăn trong việc chứng minh lỗi vô ý: Đây là một trong những thách thức lớn nhất. Việc xác định ý thức chủ quan của người phạm tội, đặc biệt là việc phân biệt giữa lỗi vô ý do quá tự tin và lỗi cố ý gián tiếp, đòi hỏi sự đánh giá toàn diện về bối cảnh, hành vi và các chứng cứ liên quan. Điều này yêu cầu các điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán phải có năng lực và kinh nghiệm chuyên sâu để tránh việc bỏ lọt tội phạm hoặc truy tố sai người.   
  • Thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết: Hiện tại, không có văn bản hướng dẫn cụ thể nào của Tòa án nhân dân Tối cao về việc áp dụng Điều 308. Điều này dẫn đến sự thiếu thống nhất trong việc định tội và định khung hình phạt, khiến việc áp dụng pháp luật trở nên tùy tiện tại một số địa phương.  
  • Chứng minh mối quan hệ nhân quả: Như đã phân tích, mối quan hệ nhân quả gián tiếp thông qua hành vi của người thứ ba làm phức tạp hóa quá trình tố tụng. Việc chứng minh hành vi thiếu trách nhiệm của người quản lý là nguyên nhân tất yếu dẫn đến hậu quả cuối cùng là một vấn đề pháp lý không dễ dàng.

Để giải quyết các khó khăn và vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, cần có các biện pháp đồng bộ từ các cơ quan có thẩm quyền.

Thứ nhất, các cơ quan tư pháp trung ương, đặc biệt là Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cần sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn cụ thể cho Điều 308 BLHS. Văn bản này cần làm rõ các khái niệm, tiêu chí định tội, và cách thức xác định mối quan hệ nhân quả trong các trường hợp phức tạp, nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các cơ quan tố tụng địa phương.

Thứ hai, cần có hướng dẫn chi tiết để phân biệt rõ ràng giữa lỗi vô ý và các dạng lỗi khác, đặc biệt là lỗi cố ý gián tiếp. Điều này sẽ giúp các cơ quan tố tụng tránh được việc truy tố nhầm tội danh, đảm bảo công lý được thực thi một cách chính xác.  

Thứ ba, cần cập nhật các văn bản hướng dẫn dưới luật để đồng bộ với Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ mới nhất (Luật số 42/2024/QH15).

Đề xuất về mặt thực tiễn: 

  • Tăng cường phối hợp liên ngành: Các cơ quan điều tra, kiểm sát và xét xử cần tăng cường trao đổi, phối hợp để xây dựng các quy trình nghiệp vụ thống nhất trong việc xử lý các vụ án liên quan đến tội danh này.  
  • Tập huấn chuyên sâu: Tổ chức các buổi tập huấn chuyên sâu cho cán bộ thực thi pháp luật, đặc biệt tập trung vào kỹ năng chứng minh ý thức chủ quan và mối quan hệ nhân quả của người phạm tội.

Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua số hotline1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.