- 1. Phân tích yếu tố cấu thành của tội phạm
- 1.1. Khách thể của tội phạm
- 1.2. Mặt khách quan
- 1.3. Chủ thể của tội phạm
- 1.4. Mặt chủ quan
- 2. Hình phạt tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
- 2.1 Khung hình phạt áp dụng với cá nhân, pháp nhân thương mại
- Hình phạt áp dụng với cá nhân:
- Hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại:
- 2.2. Tình tiết định khung tăng nặng
- 3. So sánh vớitội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234)
- 4. Vấn đề thực tiễn và thách thức trong tố tụng
- 4.1. Phân tích xu hướng tội phạm mới
- 4.2. Phân tích các yếu tố thúc đẩy tội phạm
- 4.3. Đánh giá vai trò của các cơ quan chức năng
- 4.4. Khó khăn và vướng mắc trong thực tiễn
- 5. Vai trò của Công ước CITES và quá trình nội luật hóa
- Kết luận
Bản chất pháp lý của hành vi này là việc xâm phạm các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng hoặc đang ở mức độ nguy cấp, quý, hiếm. Hành vi phạm tội không chỉ gây tổn hại trực tiếp đến các cá thể động vật cụ thể mà còn làm suy giảm nguồn gen, mất cân bằng hệ sinh thái, ảnh hưởng đến môi trường sống và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Việc xử lý hình sự đối với loại tội phạm này có vai trò then chốt trong việc bảo vệ các giá trị tài nguyên thiên nhiên, vốn là tài sản chung của quốc gia và nhân loại.
Trong Bộ luật Hình sự, tội danh này thuộc Chương XIX "các tội phạm về môi trường. Việc xếp loại này cho thấy tính chất đặc thù của tội phạm, khi hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học thường có động cơ vụ lợi, mang tính chất kinh tế. Mặc dù nằm trong nhóm tội kinh tế, bản chất của hành vi lại xâm hại trực tiếp đến khách thể là môi trường sinh thái, một mối quan hệ cho thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa các hoạt động kinh tế phi pháp và hậu quả tiêu cực đối với tự nhiên.
Sự ra đời và sửa đổi của Điều 244 BLHS 2015 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lập pháp hình sự về môi trường. Các quy định trước đây thường đòi hỏi phải chứng minh "hậu quả nghiêm trọng" thì mới có thể truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, việc xác định hậu quả của tội phạm môi trường thường rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian, thậm chí có thể vượt quá thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều 244 BLHS 2015 đã chuyển sang cấu thành tội phạm hình thức. Điều này có nghĩa là tội phạm được coi là hoàn thành ngay khi hành vi vi phạm đã xảy ra, không phụ thuộc vào hậu quả có thực sự gây thiệt hại hay không, trừ trường hợp hậu quả là một tình tiết định khung tăng nặng. Sự thay đổi này làm cho việc xử lý tội phạm vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm trở nên hiệu quả và kịp thời hơn, phù hợp với tính chất của loại tội phạm này - hành vi đã tiềm ẩn nguy cơ gây nguy hại nghiêm trọng đến đa dạng sinh học.
1. Phân tích yếu tố cấu thành của tội phạm
1.1. Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Đối với tội danh tại Điều 244 BLHS, khách thể trực tiếp là các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.
Đối tượng tác động của tội phạm là các cá thể động vật, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của chúng, thuộc một trong các danh mục sau:
- Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
- Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB.
- Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES).
Việc xác định đối tượng tác động đòi hỏi sự phối hợp liên ngành và căn cứ vào nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành, không chỉ riêng BLHS. Bộ luật chỉ định danh chung các danh mục, còn việc xác định chính xác một cá thể thuộc danh mục nào phụ thuộc vào các Nghị định, Thông tư của Chính phủ và các phụ lục quốc tế. Điều này tạo ra sự phức tạp khi điều tra, đòi hỏi phải trưng cầu giám định chuyên môn từ các cơ quan có thẩm quyền như Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật.
1.2. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện qua hành vi trái pháp luật của người phạm tội và các dấu hiệu khác liên quan đến hành vi đó.
Hành vi khách quan: Tội phạm được thực hiện thông qua một hoặc một số hành vi sau đây:
- Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật.
- Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật.
Đây là các hành vi có tính chất nguy hiểm cao, trực tiếp gây tổn hại đến các loài động vật được bảo vệ. Ví dụ điển hình trong thực tiễn là các vụ án vận chuyển, buôn bán trái phép ngà voi, sừng tê giác hoặc các cá thể hổ đông lạnh.
Dấu hiệu định lượng và định tính: Để định tội danh và định khung hình phạt, cần căn cứ vào các dấu hiệu định lượng hoặc định tính cụ thể. Các dấu hiệu định lượng bao gồm:
- Ngà voi: Khối lượng từ 02 kg đến dưới 20 kg (Khoản 1), từ 20 kg đến dưới 90 kg (Khoản 2), từ 90 kg trở lên (Khoản 3).
- Sừng tê giác: Khối lượng từ 50 gram đến dưới 01 kg (Khoản 1), từ 01 kg đến dưới 09 kg (Khoản 2), từ 09 kg trở lên (Khoản 3).
- Các loài khác: Tùy thuộc vào từng nhóm loài (lớp thú, lớp chim, lớp bò sát), luật quy định số lượng cá thể tương ứng với từng khung hình phạt.
Ngoài ra, dấu hiệu định tính cũng là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc định khung tăng nặng, bao gồm:
- Hành vi đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi tại Điều 244 nhưng vẫn tiếp tục vi phạm.
- Các tình tiết định khung tăng nặng như: có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa cơ quan, tổ chức, sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm, buôn bán, vận chuyển qua biên giới.
1.3. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội danh này bao gồm cá nhân và pháp nhân thương mại.
Chủ thể cá nhân: là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Luật hình sự Việt Nam quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh này.
Chủ thể pháp nhân thương mại: là dấu hiệu mới được bổ sung trong BLHS 2015, thể hiện sự nghiêm khắc hơn của pháp luật và nhắm đến các đường dây tội phạm có tính chất kinh doanh, tổ chức. Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân và có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân.
1.4. Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của tội phạm là yếu tố tâm lý của người phạm tội. Tội danh này được thực hiện với lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.
Cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả có thể xảy ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra.
Cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả có thể xảy ra nhưng tuy không mong muốn hậu quả đó xảy ra nhưng vẫn có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.
Động cơ và mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, tuy nhiên, trong thực tiễn, động cơ chủ yếu là vì vụ lợi cá nhân hoặc tổ chức. Trong trường hợp người thực hiện hành vi hoàn toàn không biết hoặc không buộc phải biết đó là động vật quý hiếm, họ sẽ không bị coi là phạm tội này và có thể chỉ bị xử phạt hành chính.
2. Hình phạt tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Nội dung Điều 244 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định như sau:
Điều 244. Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
1. Người nào vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; động vật nguy cấp, quý hiếm thuộc Nhóm IB hoặc thuộc Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
b) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật quy định tại điểm a khoản này; ngà voi có khối lượng từ 02 kilôgam đến dưới 20 kilôgam; sừng tê giác có khối lượng từ 0,05 kilôgam đến dưới 01 kilôgam;
c) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật nguy cấp, quý hiếm Nhóm IB hoặc thuộc Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp mà không thuộc loài quy định tại điểm a khoản này với số lượng từ 03 đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 đến 15 cá thể động vật các lớp khác;
d) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép từ 03 đến 07 bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại của động vật lớp thú, của 07 đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc 10 đến 15 cá thể động vật các lớp khác thuộc loài động vật quy định tại điểm c khoản này;
đ) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoặc tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại của các động vật có số lượng dưới mức tối thiểu của các điểm b, c và d khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
c) Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm;
d) Săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm;
đ) Buôn bán, vận chuyển qua biên giới;
e) Số lượng động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc số lượng bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại của từ 07 đến 10 cá thể lớp thú, từ 07 đến 10 cá thể lớp chim, lớp bò sát hoặc từ 10 đến 15 cá thể lớp khác thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
g) Số lượng động vật nguy cấp, quý hiếm quy định tại điểm c khoản 1 Điều này hoặc số lượng bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại của từ 08 đến 11 cá thể thuộc lớp thú, từ 11 đến 15 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 16 đến 20 cá thể động vật thuộc các lớp khác;
h) Từ 01 đến 02 cá thể voi, tê giác hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại; từ 03 đến 05 cá thể gấu, hổ hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại; ngà voi có khối lượng từ 20 kilôgam đến dưới 90 kilôgam; sừng tê giác có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 09 kilôgam;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Số lượng động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc số lượng bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại của từ 08 cá thể lớp thú trở lên, 11 cá thể lớp chim, lớp bò sát trở lên hoặc 16 cá thể lớp khác trở lên thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
b) Số lượng động vật nguy cấp, quý hiếm quy định tại điểm c khoản 1 Điều này hoặc số lượng bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại của 12 cá thể lớp thú trở lên, 16 cá thể lớp chim, bò sát trở lên hoặc 21 cá thể động vật trở lên thuộc các lớp khác;
c) Từ 03 cá thể voi, tê giác hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại trở lên; 06 cá thể gấu, hổ hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại trở lên; ngà voi có khối lượng 90 kilôgam trở lên; sừng tê giác có khối lượng 09 kilôgam trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Đến Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã sửa đổi Điều 244 (tại điểm 64, Điều 1) như sau: a) Sửa đổi, bổ sung tên điều, các khoản 1, 2 và 3 Điều 244 như sau:
“Điều 244. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
1. Người nào vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
b) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật quy định tại điểm a khoản này;
c) Ngà voi có khối lượng từ 02 kilôgam đến dưới 20 kilôgam; sừng tê giác có khối lượng từ 50 gam đến dưới 01 kilôgam;
d) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp mà không thuộc loài quy định tại điểm a khoản này với số lượng từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác;
đ) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác quy định tại điểm d khoản này;
e) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoặc tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật có số lượng dưới mức quy định tại các điểm c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 08 cá thể đến 11 cá thể lớp thú, từ 11 cá thể đến 15 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 16 cá thể đến 20 cá thể động vật lớp khác quy định tại điểm d khoản 1 Điều này;
c) Từ 01 cá thể đến 02 cá thể voi, tê giác hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 01 cá thể đến 02 cá thể voi, tê giác; từ 03 cá thể đến 05 cá thể gấu, hổ hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cá thể đến 05 cá thể gấu, hổ;
d) Ngà voi có khối lượng từ 20 kilôgam đến dưới 90 kilôgam; sừng tê giác có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 09 kilôgam;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
g) Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm;
h) Săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm;
i) Buôn bán, vận chuyển qua biên giới;
k) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 08 cá thể lớp thú trở lên, 11 cá thể lớp chim, bò sát trở lên hoặc 16 cá thể động vật lớp khác trở lên quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 12 cá thể lớp thú trở lên, 16 cá thể lớp chim, bò sát trở lên hoặc 21 cá thể động vật lớp khác trở lên quy định tại điểm d khoản 1 Điều này;
c) Từ 03 cá thể voi, tê giác trở lên hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 03 cá thể voi, tê giác trở lên; 06 cá thể gấu, hổ trở lên hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 06 cá thể gấu, hổ trở lên;
d) Ngà voi có khối lượng 90 kilôgam trở lên; sừng tê giác có khối lượng 09 kilôgam trở lên.”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 5 Điều 244 như sau:
“b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g, h, i và k khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng;”.
Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 tiếp tục có những điều chỉnh liên quan đến nội dung điều 244 như sau:
16. Sửa đổi, bổ sung các khoản 1, 4 và 5 Điều 244 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Người nào vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
b) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật quy định tại điểm a khoản này;
c) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép ngà voi có khối lượng từ 02 kilôgam đến dưới 20 kilôgam; sừng tê giác có khối lượng từ 50 gam đến dưới 01 kilôgam;
d) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp mà không thuộc loài quy định tại điểm a khoản này với số lượng từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác;
đ) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác quy định tại điểm d khoản này;
e) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoặc tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật có số lượng dưới mức quy định tại các điểm c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 và khoản 5 như sau:
“4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, d, g, h, i và k khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 20.000.000.000 đồng đến 30.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 1.200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”.
Như vậy, có thể thấy Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm theo Điều 244 Bộ luật hình sự đã có sự thay đổi, điều chỉnh qua các thời kỳ khác nhau. Từ ngày 1/7/2025 sẽ áp dụng các quy định mới nhất khi Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 chính thức có hiệu lực.
2.1 Khung hình phạt áp dụng với cá nhân, pháp nhân thương mại
Luật Minh Khuê tổng hợp khung hình phạt áp dụng mới nhất với cá nhân, pháp nhân như sau:
Hình phạt áp dụng với cá nhân:
Khoản 1 (khung hình phạt cơ bản): Phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Áp dụng với hành vi:
- Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
- Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật quy định tại điểm a khoản này;
- Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép ngà voi có khối lượng từ 02 kilôgam đến dưới 20 kilôgam; sừng tê giác có khối lượng từ 50 gam đến dưới 01 kilôgam;
- Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp mà không thuộc loài quy định tại điểm a khoản này với số lượng từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác;
- Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác quy định tại điểm d khoản này;
- Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoặc tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật có số lượng dưới mức quy định tại các điểm c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.”;
Khoản 2 (khung hình phạt tăng nặng): Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Áp dụng với các hành vi:
- Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
- Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 08 cá thể đến 11 cá thể lớp thú, từ 11 cá thể đến 15 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 16 cá thể đến 20 cá thể động vật lớp khác quy định tại điểm d khoản 1 Điều này;
- Từ 01 cá thể đến 02 cá thể voi, tê giác hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 01 cá thể đến 02 cá thể voi, tê giác; từ 03 cá thể đến 05 cá thể gấu, hổ hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cá thể đến 05 cá thể gấu, hổ;
- Ngà voi có khối lượng từ 20 kilôgam đến dưới 90 kilôgam; sừng tê giác có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 09 kilôgam;
- Có tổ chức;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
- Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm;
- Săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm;
- Buôn bán, vận chuyển qua biên giới;
- Tái phạm nguy hiểm.
Khoản 3 (Khung tăng nặng): Phạt tù từ 10 năm đến 15 năm. Áp dụng với các hành vi sau:
- Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 08 cá thể lớp thú trở lên, 11 cá thể lớp chim, bò sát trở lên hoặc 16 cá thể động vật lớp khác trở lên quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
- Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 12 cá thể lớp thú trở lên, 16 cá thể lớp chim, bò sát trở lên hoặc 21 cá thể động vật lớp khác trở lên quy định tại điểm d khoản 1 Điều này;
- Từ 03 cá thể voi, tê giác trở lên hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 03 cá thể voi, tê giác trở lên; 06 cá thể gấu, hổ trở lên hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của 06 cá thể gấu, hổ trở lên;
- Ngà voi có khối lượng 90 kilôgam trở lên; sừng tê giác có khối lượng 09 kilôgam trở lên.”;
Khoản 4 (hình phạt bổ sung): Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại:
- Vi phạm khoản 1, điều 244: Phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng;
- Vi phạm khoản 2, điều 244: Phạt tiền từ 10.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng;
- Vi phạm khoản 3, điều 244: Phạt tiền từ 20.000.000.000 đồng đến 30.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm; Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
- Hình phạt bổ sung với pháp nhân thương mại: Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 1.200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
2.2. Tình tiết định khung tăng nặng
Tội phạm sẽ bị áp dụng các khung hình phạt cao hơn nếu có một trong các tình tiết định khung tăng nặng sau đây:
- Phạm tội có tổ chức.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức.
- Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm.
- Săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm.
- Buôn bán, vận chuyển qua biên giới.
- Tái phạm nguy hiểm.
Ngoài các tình tiết định khung tăng nặng, người phạm tội cũng có thể được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 của BLHS, ví dụ như: tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong việc phát hiện tội phạm, đã khắc phục hậu quả, v.v.
Ví dụ điển hình: Vụ án Hoàng Đình Q (nguồn án lệ cho Án lệ 58/2023/AL) là một minh chứng cụ thể cho vướng mắc trong việc định tội danh. Bị cáo vận chuyển 05 cá thể hổ đông lạnh và 01 bộ phận không thể tách rời sự sống của cá thể hổ thứ 06. Tình huống này đặt ra câu hỏi về cách tính số lượng cá thể để áp dụng đúng khung hình phạt. Án lệ ra đời đã giải quyết dứt điểm vướng mắc này, nhưng cũng cho thấy sự bất cập trong quy định ban đầu và nhu cầu cấp thiết của việc hoàn thiện pháp luật.
3. So sánh vớitội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234)
Tội danh "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm" (Điều 244) thường bị nhầm lẫn với "Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã" (Điều 234) do cùng hướng đến đối tượng là động vật được bảo vệ. Tuy nhiên, hai tội danh này có sự khác biệt rõ rệt về đối tượng tác động và tiêu chí định tội.
| Tiêu chí so sánh | Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244) | Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234) |
| Đối tượng tác động | Động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I CITES. | Động vật thuộc Danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II CITES. |
| Tiêu chí định tội | Chủ yếu dựa vào số lượng cá thể, khối lượng cụ thể của tang vật. | Chủ yếu dựa vào giá trị tang vật (từ 150.000.000 đồng trở lên). |
| Khung hình phạt cơ bản | Phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. | Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. |
Ý nghĩa thực tiễn của việc phân biệt đúng: Việc phân biệt rõ ràng hai tội danh này có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn tố tụng. Nó giúp cơ quan điều tra, truy tố, xét xử xác định chính xác tội danh và áp dụng đúng khung hình phạt, tránh việc định tội sai hoặc áp dụng tùy tiện các quy định pháp luật. Sự khác biệt về tiêu chí định tội (số lượng/khối lượng so với giá trị) là điểm phân biệt cốt lõi và cũng là điểm gây ra nhiều vướng mắc trong thực
4. Vấn đề thực tiễn và thách thức trong tố tụng
Các số liệu thống kê gần đây cho thấy một bức tranh rõ nét về tình hình tội phạm và hiệu quả của công tác đấu tranh:
| Chỉ số | Số liệu (Thời gian) | Phân tích |
| Số vụ vi phạm động vật hoang dã | 8.661 vụ việc (9 tháng đầu 2023) | Cho thấy quy mô rộng lớn của các vi phạm trên cả nước, bao gồm cả các hành vi nhỏ lẻ. |
| Số vụ án hình sự | 180 vụ (năm 2024) | Số lượng vụ án hình sự được khởi tố tương đối cao, phản ánh sự nghiêm minh của pháp luật. |
| Tăng trưởng số vụ án hình sự | Tăng 350% (từ 57 vụ năm 2014 lên 257 vụ năm 2023) | Sự gia tăng đột biến cho thấy cả việc tội phạm gia tăng và năng lực phát hiện, xử lý của cơ quan chức năng được nâng cao. |
| Mức án tù trung bình | 3,5 năm (năm 2024) | Cao gần gấp ba lần so với giai đoạn trước khi BLHS 2015 có hiệu lực, thể hiện chính sách hình sự ngày càng nghiêm khắc. |
| Tang vật bị thu giữ | Hơn 2.000 cá thể ĐVHD còn sống (9 tháng đầu 2023) và 1.235 cá thể (năm 2024) | Các loài phổ biến bị buôn bán bao gồm khỉ, rùa và các loài chim hoang dã. |
4.1. Phân tích xu hướng tội phạm mới
Hoạt động buôn bán động vật hoang dã trên internet tại Việt Nam đang diễn biến phức tạp và trở thành một xu hướng đáng báo động. Trong 9 tháng đầu năm 2023, có hơn 1.400 vụ việc quảng cáo, buôn bán trên internet, chiếm khoảng 50% tổng số vụ vi phạm về động vật hoang dã.
Tội phạm buôn bán trên mạng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi để che giấu hành vi. Các đối tượng thường cố tình viết sai chính tả, dùng tiếng lóng như "socola 30" hoặc "cao 30" để ám chỉ cao hổ cốt, hoặc "măng đen, thịt nạc" để chỉ sừng tê giác, nhằm né tránh sự kiểm tra của cơ quan chức năng và các nền tảng thương mại điện tử. Đáng chú ý, một số đối tượng còn sử dụng các cụm từ như "cứu hộ" hay "bảo tồn" để ngụy trang cho hành vi buôn bán trái phép. Vụ án Vưu Ngọc Thái là một ví dụ điển hình cho xu hướng này. Đối tượng này đã bị bắt giữ và kết án 24 tháng tù vào tháng 2 năm 2024 vì buôn bán trái phép rùa đầu to, sau khi từng bị xử phạt hành chính nhưng vẫn tiếp tục lập các tài khoản mạng xã hội khác để tái phạm.
Tội phạm buôn lậu động vật hoang dã đang có sự chuyển dịch về tuyến đường và loài mục tiêu. Các cơ quan chức năng liên tục phát hiện và thu giữ các sản phẩm quý hiếm như ngà voi, sừng tê giác vận chuyển trái phép qua đường hàng không từ nước ngoài về Việt Nam. Bên cạnh đó, các nhóm tội phạm cũng có xu hướng chuyển từ các loài bị bảo vệ nghiêm ngặt như hổ sang các loài tương tự như báo gấm, báo tuyết để tránh sự chú ý của lực lượng chức năng. Điều này cho thấy tính thích ứng và tinh vi của các đường dây buôn lậu trong việc tìm kiếm các loài thay thế để đáp ứng nhu cầu thị trường.
4.2. Phân tích các yếu tố thúc đẩy tội phạm
Tội phạm buôn bán động vật hoang dã là một ngành kinh doanh siêu lợi nhuận, với giá trị ước tính lên đến hàng tỷ đô la mỗi năm, chỉ xếp sau buôn ma túy và buôn người nhưng cao hơn buôn bán vũ khí. Lợi nhuận khổng lồ này là động lực chính thúc đẩy các mạng lưới tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia tham gia vào hoạt động này. Tại Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm từ động vật hoang dã làm thực phẩm, dược liệu cổ truyền (như cao hổ cốt, sừng tê giác), đồ trang sức, hay thú cưng vẫn còn rất cao, tạo ra một thị trường béo bở cho các đối tượng buôn lậu.
Tội phạm buôn bán động vật hoang dã thường là tội phạm có tổ chức và có sự liên kết chặt chẽ với tội phạm rửa tiền. Các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia khai thác những điểm yếu trong hệ thống tài chính để hợp pháp hóa nguồn tiền bất chính thu được từ hoạt động buôn bán trái phép. Việc chỉ tập trung vào bắt giữ tang vật mà không truy tìm và xử lý các "ông trùm" và các đường dây tài chính đằng sau sẽ không thể giải quyết được tận gốc vấn đề. Điều này đòi hỏi các cơ quan chức năng phải chuyển đổi chiến lược, tập trung vào điều tra tài chính và tăng cường hợp tác quốc tế để phá vỡ toàn bộ chuỗi cung ứng tội phạm.
4.3. Đánh giá vai trò của các cơ quan chức năng
Công tác phòng, chống tội phạm liên quan đến động vật hoang dã là một nỗ lực liên ngành, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan.
- Cục Cảnh sát Môi trường (C05): Đóng vai trò chủ công trong điều tra, khám phá các đường dây tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia. C05 thường là đơn vị thực hiện các chuyên án lớn, triệt phá các ổ nhóm buôn lậu, đặc biệt là trong bối cảnh tội phạm ngày càng tinh vi và sử dụng công nghệ cao để hoạt động.
- Cục Kiểm lâm: Là cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp, có trách nhiệm chính trong việc tuần tra, kiểm soát các hoạt động vi phạm trong rừng. Lực lượng kiểm lâm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận động vật hoang dã do người dân tự nguyện giao nộp và thực hiện công tác cứu hộ, chăm sóc và tái thả về tự nhiên.
- Tổng cục Hải quan: Chịu trách nhiệm kiểm soát, ngăn chặn các lô hàng buôn lậu động vật, sản phẩm động vật qua biên giới, cửa khẩu, đường biển và hàng không. Lực lượng Hải quan đã phối hợp với các tổ chức quốc tế để tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu, nhằm nâng cao năng lực phát hiện và bắt giữ các lô hàng cấm.
- Tòa án Nhân dân: Đảm bảo việc xét xử các vụ án được thực hiện nghiêm minh, đúng pháp luật. Các bản án nghiêm khắc, như mức án tù trung bình tăng cao, đã thể hiện quyết tâm của Tòa án trong việc răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, công tác phối hợp liên ngành vẫn còn tồn tại những hạn chế. Một báo cáo cho thấy, chỉ có 27,52% số vụ án liên quan đến động vật hoang dã bị bắt giữ trong giai đoạn 2020-2021 có sự phối hợp giữa các cấp. Điều này cho thấy sự thiếu hiệu quả trong cơ chế chia sẻ thông tin và phối hợp hành động kịp thời. Bên cạnh đó, có sự chồng chéo về thẩm quyền giữa các bộ ngành như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường trong quản lý các loài, dẫn đến khó khăn trong thực thi pháp luật.
4.4. Khó khăn và vướng mắc trong thực tiễn
Mặc dù hệ thống pháp luật đã tương đối đầy đủ, việc áp dụng Điều 244 BLHS vào thực tiễn vẫn còn gặp một số khó khăn và vướng mắc đáng chú ý.
- Vấn đề giám định và định giá tài sản: Đây là một trong những vướng mắc lớn nhất. Việc định giá tang vật là động vật hoang dã, đặc biệt là các sản phẩm bị cấm buôn bán trên thị trường, rất phức tạp. Thực tế cho thấy, cùng một loại tang vật, các Hội đồng định giá ở các địa phương khác nhau có thể đưa ra mức giá khác nhau, dẫn đến tình trạng cùng một hành vi nhưng bị xử lý hình sự ở địa phương này và chỉ bị xử phạt hành chính ở địa phương khác. Điều này gây ra sự thiếu thống nhất và không công bằng trong việc áp dụng pháp luật.
- Xác định lỗi cố ý: Trong nhiều trường hợp, bị cáo khai không biết động vật hoặc sản phẩm là quý, hiếm. Mặc dù luật quy định lỗi cố ý là dấu hiệu bắt buộc, việc chứng minh người phạm tội "biết rõ" là một thách thức, đặc biệt đối với người dân tộc thiểu số hoặc người sống ở vùng sâu, vùng xa có nhận thức hạn chế về pháp luật.
- Thiếu sự phối hợp liên ngành: Việc đấu tranh với tội phạm về động vật hoang dã đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan chức năng như Công an, Kiểm lâm, Hải quan, Viện kiểm sát, Tòa án. Tuy nhiên, trên thực tế, sự phối hợp này đôi khi chưa được nhịp nhàng, gây khó khăn, chậm trễ trong quá trình điều tra, xử lý vụ án.
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác này, báo cáo xin đề xuất các kiến nghị sau:
- Hoàn thiện khung pháp lý cần khẩn trương sửa đổi, bổ sung các hướng dẫn về tiêu chí định lượng trong Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 244 BLHS, đặc biệt là quy định về việc quy đổi khối lượng của các bộ phận tang vật sang số cá thể.
- Nâng cao năng lực thực thi tăng cường đào tạo chuyên sâu cho các cán bộ điều tra, kiểm sát, và xét xử về kỹ năng nhận dạng loài, điều tra tài chính và phòng chống tội phạm công nghệ cao. Cần đầu tư và mở rộng các trung tâm giám định chuyên ngành để rút ngắn thời gian và chi phí giám định.
- Tăng cường phối hợp liên ngành cần thiết lập một cơ chế phối hợp cấp cao, có thẩm quyền điều phối hiệu quả hơn giữa các Bộ, ngành liên quan để đảm bảo việc chia sẻ thông tin kịp thời và phá vỡ toàn bộ các đường dây tội phạm, bao gồm cả các "ông trùm" và các dòng tiền bất chính.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục tăng cường các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng về hậu quả pháp lý và sinh thái của việc buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã, nhằm giảm thiểu nhu cầu thị trường.
- Nâng cao trách nhiệm của các công ty công nghệ khuyến nghị các nền tảng mạng xã hội và thương mại điện tử cần chủ động hơn trong việc ngăn chặn, gỡ bỏ các bài đăng vi phạm và hợp tác chặt chẽ với cơ quan chức năng để cung cấp thông tin về các đối tượng vi phạm.
5. Vai trò của Công ước CITES và quá trình nội luật hóa
Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 121 của Công ước CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) từ năm 1994, thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc kiểm soát và bảo tồn các loài này trên phạm vi toàn cầu. Kể từ đó, Việt Nam đã từng bước nội luật hóa các quy định của Công ước vào hệ thống pháp luật trong nước.
Quá trình này được thể hiện qua việc ban hành và sửa đổi nhiều văn bản pháp luật, từ các luật nền tảng như Luật Lâm nghiệp, Luật Đa dạng sinh học đến các văn bản hướng dẫn chi tiết như Nghị định số 06/2019/NĐ-CP. Nghị định này không chỉ quy định về quản lý các loài trong nước mà còn tích hợp các quy định của CITES, đặc biệt là về chế độ cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu các mẫu vật thuộc Phụ lục của Công ước. Việc cấp giấy phép CITES được giao cho Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam, một đơn vị trực thuộc Cục Kiểm lâm, với các trình tự, thủ tục rõ ràng. Tuy nhiên, giấy phép CITES chỉ được cấp một bản duy nhất và không được cấp lại, đòi hỏi các bên liên quan phải tuân thủ nghiêm ngặt.
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, việc nội luật hóa Công ước CITES vẫn tồn tại một số bất cập. Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam chỉ là một đơn vị cấp vụ, trực thuộc Cục Kiểm lâm, gây ra sự thiếu hợp lý về mặt tổ chức và có thể ảnh hưởng đến khả năng điều phối liên ngành hiệu quả với các cơ quan khác như Bộ Công an và Bộ Tài chính. Một điểm yếu khác là sự thiếu đồng bộ giữa danh mục loài trong nước và danh mục của CITES, gây khó khăn cho việc quản lý và xử lý vi phạm trên thực tế.
Kết luận
Tội danh vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là một trong những tội phạm nguy hiểm nhất đối với đa dạng sinh học và hệ sinh thái toàn cầu. Việc xử lý hình sự đối với loại tội phạm này thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong công tác bảo tồn, góp phần gìn giữ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá.
Để cuộc chiến chống tội phạm về động vật hoang dã đạt hiệu quả cao, việc xử lý đúng người, đúng tội là yếu tố then chốt. Điều này đòi hỏi sự áp dụng chính xác, thống nhất các quy định của BLHS, các văn bản hướng dẫn và án lệ.
Trong tương lai, để nâng cao hơn nữa hiệu quả phòng chống tội phạm này, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, đặc biệt là sửa đổi Điều 234 để tạo sự thống nhất trong các tiêu chí định tội. Đồng thời, việc củng cố năng lực giám định, tăng cường phối hợp liên ngành và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cộng đồng là những giải pháp toàn diện và cần thiết. Điều này khẳng định rằng, cuộc chiến chống tội phạm về động vật hoang dã không chỉ là trách nhiệm của riêng các cơ quan tố tụng, mà là trách nhiệm của toàn xã hội.
Quý khách hàng còn bất cứ vướng mắc gì về nội dung được nêu trên Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài, gọi ngay tới số 19006162 để được hỗ trợ trực tiếp. Rất mong nhận được sự hợp tác từ Quý khách hàng. Trân trọng!