1. Tội vu khống người khác sẽ bị xử lý thế nào ?

Ngày 24 tháng 4 năm 2018. Tôi ở nhà làm việc thì đến trưa có người gần nhà đến chửi rủa tôi, bảo tôi đột nhập vào nhà họ ăn cắp, họ nói họ trông thấy tôi vào nhà họ và có để lại nhiều dấu chân. Họ bôi nhọ danh dự nhân phẩm của tôi trước tất cả mọi người vì xung quanh kéo đến rất đông.

Rõ ràng tôi không có hành vi đó và lúc đó tôi đang ở nhà nhưng chỉ có 2 vợ chồng và không có ai làm chứng. Tôi đã nói họ phải chứng minh tôi chính là kẻ đột nhập nếu không chứng minh được tôi sẽ gửi đơn ra công an huyện tố cáo tội họ vu khống. Tôi sẽ buộc họ xin lỗi công khai trên loa trong vòng 1 tháng và bồi thường hành chính. Tôi làm như vậy có đúng ko. Nếu không tôi phải làm thế nào ?

Xin luật sư giúp đỡ. Tôi xin cảm ơn.

Tội vu khống người khác đột nhập ăn cắp tài sản sẽ bị xử lý thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số:1900.6162

Luật sư trả lời:

Tội vu khống theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 được quy định như sau:

Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền...

Ở tình huống của anh, gia đình hàng xóm đang có những lời lẽ bịa đặt và loan truyền cho mọi người xung quanh về việc anh là người đã trộm cắp tài sản của họ.

Về mặt chủ quan; bản thân người đã bịa đặt, loan truyền sai sự thật còn phải biết rõ là sai sự thật: có nghĩa, gia đình hàng xóm biết rõ là anh không hề trộm cắp, thậm chí có thể họ không mất tài sản nhưng vẫn cố tình bịa đặt, loan truyền anh là người trộm cắp.

Mục đích của tội vu khống là nhằm xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của anh.

Với tình huống này, việc anh yêu cầu ra cơ quan công an để đề nghị điều tra, xem xét khởi tố về tội vu khống là hợp lý.

Còn với việc công khai xin lỗi, và bồi thường đó là yêu cầu chính đáng cá nhân của bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ luật sư để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định của pháp luật hình sự ?

2. Tư vấn về tội vu khống ?

Kính gửi Luật sư. Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn giúp tôi vấn đề sau: Do không hiểu biết về điện, công tơ điện cùng những quy định của hợp đồng sử dụng điện. Nên có lần tôi đã tự sửa chữa điện, tác động lên công tơ điện làm mất trì tai công tơ với mục đích kiểm tra điện.

Cơ quan điện lực phát hiện sau đó mời tôi đến giải quyết và truy thu của tôi 7.000.000 (Bảy triệu đồng) tiền điện sử dụng trong một năm với lý do là tác động lên công tơ làm cho công tơ hoạt động không chính xác và 499.000 tiền lắp đặt lại công tơ mới. Tôi không hiểu nên đã ký vào toàn bộ hồ sơ mà nhân viên điện lực lập khống sau đó họ đi xin chữ ký của các thành phần liên quan với nội dung là trộm cắp điện. Hồ sơ kèm theo sơ đồ vẽ hình đấu nối trộm cắp điện. Sau này tôi mới hiểu là họ lập hồ sơ khống. Tang vật là công tơ điện nhà tôi công an huyện đã kiểm tra, kết quả không có đấu nối gì như trong hình vẽ của hồ sơ lập trước đó và những người làm chứng trong hồ sơ đều không có mặt tại hiện trường giải quyết. Tôi đã chứng minh được điều đó. Vậy xin được hỏi Luật sư những vấn đề sau:

- Trường hợp lập hồ sơ giả trên có thể coi là tội vu khống không?

- Những người vu khống cho tôi phải chịu trách nhiệm gì?

- Tôi được bồi thường những gì?

- Thủ tục tố cáo như thế nào Kính mong luật sư giúp đỡ ?

Cảm ơn luật sư

Trả lời:

Tội vu khống được quy định tại điều 156, Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 như sau:

Điều 156. Tội vu khống
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

“Bịa đặt" là đưa ra những thông tin không đúng sự thật, tự nghĩ ra một điều gì đó mà không có với người khác

" Loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt" Việc loan truyền này có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như: sao chép làm nhiều bản gửi đi nhiều nơi, kể lại cho người khác nghe, đăng tin, bài trên các phương tiện thông tin đại chúng v.v... Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý, người phạm tội biết những thông tin mình đưa ra là không đúng sự thật nhưng đã thực hiện nhằm mục đích xúc phạm danh dự hoặc nhằm gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác và những thiệt hại này có thể đã xảy ra hoặc cũng có thể chưa xảy ra.

Như vậy, hành vi lập hồ sơ giả của nhân viên điện lực trên được coi là phạm tội vu khống theo điều 122 bộ luật hình sự.

Người vu khống chỉ chịu trách nhiệm hình sự khi có đơn tố cáo lên cơ quan điều tra, tòa án, viện kiểm sát có thẩm quyền, kèm theo các bằng chứng mà bạn thu thập được để chứng minh bạn đã bị vu khống. Mức độ xử lý phụ thuộc vào tính chất tội phạm nguy hiểm đến đâu mà có khung hình phạt thích hợp, trường hợp này có thể xử lý theo khoản 2 điều 122 do có yếu tố lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

Bạn có thể gửi đơn đến cơ quan công an huyện. Cơ quan điều tra sau khi xác định đủ điều kiện để khởi tố vụ án hình sự sẽ ra quyết định khởi tố vụ án. Và bạn có thể được bồi thường theo mức độ thiệt hại mà tòa án xác định được

>> Xem thêm:  Hình phạt đối với tội vu khống, làm nhục người khác ? Tố cáo hành vi làm nhục như thế nào ?

3. Khởi kiện ngược lại về tội vu khống ?

Thưa luật sư, em có một câu hỏi mong muốn Luật sư trả lời giúp ạ. Em đang bị bà nguyễn thị A gửi đơn tố cáo tôi lên CQCSĐT về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, CQĐT có gửi giấy mời tôi lên và lấy lời khai, nhưng nay đã quá thời hạn xác minh ban đầu là 02 tháng và thời gian gia hạn xác minh 02 tháng mà bên phía CQĐT chưa đưa ra được bằng chứng để kết tội em (trên thực tế là em không lừa đảo).
Vậy Luật sư cho em hỏi nếu như em nhận được quyết định đình chỉ xác minh vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án tức là em vô tội thì em có thể dựa trên cơ sở đã xác minh đó của CQĐT để kiện lại bà Nguyễn thị A về tội vu khống theo điểm e khoản 2 điều 122 BLHS không ạ ?
Em rất mong sớm nhận được câu trả lời từ phía Luật sư, em xin chân thành cảm ơn.

Luật sư tư vấn:

Tội vu khống được quy định tại điều 156, Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 như sau:

Điều 156. Tội vu khống
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

Tội vu khống quy định có 3 dạng hành vi phạm tội, trong đó hành vi “bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền” là dạng hành vi đặc biệt của tội vu khống. Người phạm tội có hành vi tố cáo người khác có hành vi phạm tội trước cơ quan công an, hải quan, viện kiểm sát…mặc dù thức tế người này không có hành vi đó. Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý, người phạm tội biết rõ người mình tố giác không phạm tội nhưng vẫn tố giác họ.

Theo như bạn đã trình bày thì bà Nguyễn Thị A có hành vi tố cáo bạn lên CQCSĐT về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng thực tế là bạn không có hành vi đó. Tuy nhiên, để có thể kiện bà A về tội vu khống thì bạn còn phải căn cứ vào “lỗi” Vậy chúng tôi chia thành hai trường hợp như sau:

+ Nếu bà A bà biết được thông tin là bạn đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ người khác hoặc do bà đã có những sai sót, nhầm tưởng thông tin mình biết được là đúng sự thật… và tố cáo bạn lên cơ quan công an cảnh sát điều tra thì bạn không thể kiện bà A về tội vu khống được ( do đây là lỗi vô ý), không cấu thành tội vu khống được.

+ Nếu bà A bịa đặt, tức biết rõ bạn không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng vẫn cố tình tố giác bạn (lỗi cố ý) thì ban có thể kiện bà A về tội vu khống. Khi khởi kiện bạn cần kèm theo tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, Tuy nhiên trường hợp bạn nhận được quyết định đình chỉ xác minh vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án tức là bạn vô tội thì bạn có thể dựa trên cơ sở đã xác minh đó của CQDT để kiện lại bà Nguyễn thị A về tội vu khống theo điều 156 BLHS mà không cần phải chứng minh theo điều 92 bộ luật tố tụng dân sự 2015 :

Điều 92. Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh
1. Những tình tiết, sự kiện sau đây không phải chứng minh:
a) Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận;
b) Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;
c) Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính.

Còn việc bạn muốn khởi kiện bà A theo điểm e khoản 2 BLHS sửa đổi, bổ sung: “Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”:

Và Điều 175 BLHS về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Như vậy, việc khởi kiện của bạn còn tùy thuộc vào việc bà A vu khống bạn phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy đinh tại điều 175 BLHS thuộc khoản nào? Nếu thuộc khoản 1 hoặc khoản 2 thì bạn không áp dụng được khoản này bởi mức hình phạt cao nhất lần lượt là ba năm và bảy năm (tức tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng). Nếu thuộc khoản 3 hoặc 4 với mức hình phạt cao nhất lần lượt là 15 năm và tù chung thân (tức tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng) thì bạn có thể kiện bà A theo điểm e, khoản 2 điều 156 BLHS về tội vu khống.

>> Xem thêm:  Tội làm nhục người khác bị hại rút đơn có bị khởi tố?

4. Tội vu khống chôn bùa ngải ?

Kính gửi Luật sư Công ty Luật Minh khuê, Tôi muốn tư vấn công ty Luật Minh Khuê nội dung sau: Hiên nay tôi bị em con cậu vu khống tội chôn bùa ngải do đi nghe bà đồng bóng nói thế nên đã vu khống cho tôi là tôi đã chôn bùa ngải ngần nhà nó, và tôi đã yêu cầu nó đưa bà đồng về làm rõ sự việc, nhưng nó không làm vì thế tôi muốn làm đơn khiếu nại để làm rõ sự việc trên, vậy rất mong tư vấn Luật Minh Khuê về thủ tục làm đơn khiếu nại ?
Cảm ơn!

Tội vu khống chôn bùa ngải ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017, quy định tội hành nghề mê tín dị đoan.

Điều 320. Tội hành nghề mê tín, dị đoan
1. Người nào dùng bói toán, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Căn cứ vào quy định trên, người nào có hành vi bói toán, đồng bóng hoặc hình thức mê tín, dị đoan khác gây hậu quả nghiêm trọng có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Còn nếu như bạn không thực hiện hành vi này nhưng bị người khác đổ tội rằng chị có hành vi sử dụng bùa ngải, như vậy chị có thể làm đơn gửi lên cơ quan công an yêu cầu khởi tố vụ án về hành vi người này vu khống cho bạn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của bạn theo điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Điều 156. Tội vu khống
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

Theo những thông tin mà bạn đã cung cấp thì bạn bị người em con cậu vu khống nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bạn do đã tin vào lời thầy bói. Do vậy, người thầy bói và em của bạn có khả năng bị trúy cứu TNHS về tội hành nghề mê tín dị đoan và tội vu khống nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 320 và Điều 156 BLHS.

Trong trường hợp này bạn cần làm đơn tố cáo gửi tới có quan Nhà nước có thẩm quyền để được giải quyết.

Điều 2 Luật tố cáo 2011 quy định :

“1. Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”.

Theo đó, căn cứ vào những dấu hiệu của “Tội hành nghề mê tín, dị đoan” và “tội vu khống” những tình tiết bạn đưa ra, bạn có thể tố cáo những người có hành vi lừa đó tại cơ quan công an nơi người đó đang cư trú. Kèm theo đơn tố cáo là những bằng chứng, chứng cứ chứng minh cho việc tố cáo của bạn là đúng.

Mẫu đơn tố cáo bạn có thể tham khảo :

Mẫu đơn tố cáo

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc gì về ý kiến tư vấn xin hãy liên hệ với tổng đài luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được tư vấn trực tiếp hoặc bạn có thể liên hệ tới địa chỉ email :Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật MInh Khuê

>> Xem thêm:  Nói xấu người khác trên facebook bị xử lý như thế nào ? Mức phạt xâm phạm danh dự

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Có lời lẽ xúc phạm người khác trên facbook có bị đi tù?

Trả lời:

Hành vi xúc phạm danh dự, làm nhục người khác, đặc biệt là sử dụng các phương tiện như internet và phát tán những thông tin xúc phạm lên mạng xã hội luôn là hành vi đáng bị lên án. Tùy từng mức độ xúc phạm, làm nhục người khác, pháp luật nước ta hiện nay có các chế tài xử lý khác nhau như: xử phạt vi phạm hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, …

Việc bôi nhọ danh dự người khác ngoài đời thực hay trên mạng xã hội đều không được pháp luật cho phép.

Tùy thuộc vào tính chất của hành vi vi phạm, người bôi nhọ danh dự người khác trên Facebook có thể bị phạt hành chính hoặc bị xử lý hình sự.

Câu hỏi: Hành vi xúc phạm được thể hiện bằng hình thức gì?

Trả lời:

Hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác có thể thực hiện bằng lời nói hoặc bằng hành động. Thông thường lời nói được sử dụng là lời nói có tính chất miệt thị, sỉ nhục người khác, hành động được sử dụng có tính chất bỉ ổi, sỉ nhục người khác.

Câu hỏi: Hướng dẫn tố cáo người bôi nhọ danh dự trên Facebook?

Trả lời:

cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Ngoài việc yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin xấu về danh dự, người bị bôi nhọ danh dự cũng có thể thực hiện quyền tố cáo.