1. Trả nợ bằng phần vốn góp hoặc cổ phần ?

Kính chào Luật sư Minh khuê. Tôi có cho 1 người bạn mượn tiền. Người đó rủ tôi cùng mua hàng hóa về bán, lợi nhuận chia 50/50. Nhưng người đó chỉ đưa một số ít hàng hóa, không đúng số lượng hàng mà tôi đã gửi tiền cho người đó đặt. Người đó hứa hẹn với tôi về số hàng va số tiền còn nợ đến hết tháng 10/2015 này sẽ trả. Mỗi lần mượn tiền hay nhận tiền tôi đã có giấy xác nhận của chị ấy. Được biết chị ấy đã bán nhà và ở trọ.
Nơi ở trọ thì tôi không biết. Chị ấy có thỏa thuận giao cho tôi bản hợp đồng góp vốn với công ty nọ. Vậy tôi có thể đòi lại tiền từ số tiền mà chị ấy đã góp cổ phần với công ty được không ?
Xin cảm ơn Luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật doanh nghiệp trực tuyến, gọi : 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Về vấn đề thành viên/ cổ đông dùng phần vốn góp /cổ phần mà mình sở hữu trong công ty để trả nợ, pháp luật quy định như sau:

*Trường hợp 1: Người vay tiền là thành viên có phần vốn góp trong Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên:

Căn cứ theo quy định tại Khoản 7 Điều 54 Luật doanh nghiệp năm 2020 (bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021), cụ thể như sau:

"7. Trường hợp thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ thì người nhận thanh toán có quyền sử dụng phần vốn góp đó theo một trong hai hình thức sau đây:

a) Trở thành thành viên công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận;

b) Chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp đó theo quy định tại Điều 52 của Luật này".

Và căn cứ theo quy định tại Điều 52 Luật doanh nghiệp năm 2020 (Bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021) quy định cụ thể về việc chuyển nhượng vốn góp, như sau:

"Điều 52. Chuyển nhượng phần vốn góp

1. Trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 51, khoản 6 và khoản 7 Điều 53 của Luật này, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây:

a) Chào bán phần vốn góp đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện chào bán;

b) Chuyển nhượng với cùng điều kiện chào bán đối với các thành viên còn lại quy định tại điểm a khoản này cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán.

2. Thành viên chuyển nhượng vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với công ty tương ứng với phần vốn góp có liên quan cho đến khi thông tin về người mua quy định tại các điểm b, c và đ khoản 2 Điều 48 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên.

3. Trường hợp chuyển nhượng hoặc thay đổi phần vốn góp của các thành viên dẫn đến chỉ còn một thành viên công ty thì công ty phải tổ chức quản lý theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và thực hiện đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hoàn thành việc chuyển nhượng".

Như vậy, trường hợp của bạn thì bạn có thể nhận phần vốn góp thay cho số tiền bạn đã cho vay bằng cách trở thành thành viên công ty nếu được Hội đồng thành viên công ty chấp thuận hoặc trong trường hợp bạn không muốn trở thành thành viên công ty này thì bạn có quyền chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp đó đi để thu hồi lại số tiền bạn đã cho vay.

* Trường hợp 2: Người vay tiền là cổ đông trong Công ty cổ phần:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 127 Luật doanh nghiệp năm 2020 (Bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021), cụ thể như sau:

"Điều 127. Chuyển nhượng cổ phần

5. Cổ đông có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ cổ phần của mình tại công ty cho cá nhân, tổ chức khác; sử dụng cổ phần để trả nợ. Cá nhân, tổ chức được tặng cho hoặc nhận trả nợ bằng cổ phần sẽ trở thành cổ đông của công ty".

Như vậy, trường hợp người vay tiền là cổ đông trong công ty cổ phần thì người nhận trả nợ sẽ đương nhiên là cổ đông trong công ty. Trong trường hợp của bạn, sau khi đã là cổ đông của công ty mà bạn không muốn tiếp tục làm cổ đông nữa thì bạn có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình theo quy định tại Điều 127 Luật doanh nghiệp năm 2020 (bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021).

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Cổ đông là cá nhân chuyển nhượng cổ phần ngang giá góp vốn thì có phải nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN) ?

2. Cách mua lại phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Không tán thành với nghị quyết HĐTV của công ty TNHH hai thành viên trở lên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp không. Điều kiện để công ty mua lại phần vốn góp là gì. Trường hợp công ty không mua lại thì xử lý như thế nào?
Ngày 06/08/2015 Do tình hình hoạt động kinh doanh không hiệu quả, HĐTV Công ty A tiến hành cuộc họp quyết định việc sáp nhận vào Công ty TNHH B. Tại cuộc họp, ông C (thành viên chiếm 5% tổng số vốn của công ty) đã bỏ phiếu không tán thành. Tuy nhiên Nghị quyết vẫn được thông qua một cách hơp pháp. Vì vậy, đến ngày 27/08/2015, ông C có văn bản yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình. Hỏi:
1. Việc ông C yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình trong công ty có hơp pháp không? Giải thích?
2. Giả sử việc yêu cầu mua lại phần vốn góp của ông C là hợp pháp nhưng công ty không mua, ông Tuấn tặng toàn bộ phần vốn góp cho con rể là ông D. Hỏi D có đương nhiên trở thành thành viên của công ty không? Giải thích?
Cảm ơn!

Luật sư trả lời:

1. Điều kiện mua lại phần vốn góp:

Luật doanh nghiệp năm 2020 (bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021) quy định về việc mua lại phần vốn góp, cụ thể như sau:

"Điều 51. Mua lại phần vốn góp

1. Thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình nếu thành viên đó đã bỏ phiếu không tán thành đối với nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên về vấn đề sau đây:

a) Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên;

b) Tổ chức lại công ty;

c) Trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty.

2. Yêu cầu mua lại phần vốn góp phải bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông qua nghị quyết, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của thành viên quy định tại khoản 1 Điều này thì công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên đó theo giá thị trường hoặc giá được xác định theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty, trừ trường hợp hai bên thỏa thuận được về giá. Việc thanh toán chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.

4. Trường hợp công ty không thanh toán được phần vốn góp được yêu cầu mua lại theo quy định tại khoản 3 Điều này thì thành viên đó có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người không phải là thành viên công ty".

Ngày 06/08/2015 Nghị quyết của công ty A được thông qua với nội dung quyết định việc sáp nhận vào Công ty TNHH B. Ông C bỏ phiếu không tán thành nghị quyết, nên ngày 27/08/2015 ông C có văn bản yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình. Căn cứ theo quy định của pháp luật về thời hạn yêu cầu mua lại phần vốn góp là trong vòng 15 ngày kể từ khi nghị quyết được thông qua. Yêu cầu của ông C đã vi phạm quy định về thời hạn yêu cầu (21 ngày), nên yêu cầu này là không hợp pháp.

2. Tặng cho phần vốn góp khi công ty không mua lại:

Căn cứ vào Khoản 4 Điều 51 Luật doanh nghiệp năm 2020 (Bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021) quy định như sau:

"4. Trường hợp công ty không thanh toán được phần vốn góp được yêu cầu mua lại theo quy định tại khoản 3 Điều này thì thành viên đó có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người không phải là thành viên công ty".

Căn cứ khoản 6 Điều 53 Luật doanh nghiệp năm 2020 (Bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/12021), cụ thể như sau:

"Điều 53. Xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt

6. Trường hợp thành viên tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác thì người được tặng cho trở thành thành viên công ty theo quy định sau đây:

a) Người được tặng cho thuộc đối tượng thừa kế theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người này đương nhiên là thành viên công ty;

b) Người được tặng cho không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản này thì người này chỉ trở thành thành viên công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận".

Trường hợp yêu cầu mua lại phần vốn góp của ông C là hợp pháp, công ty không chấp nhận yêu cầu mua lại thì ông C có quyền tự do chuyển nhượng cho cá nhân khác.

Trường hơp người được tặng cho có quan hệ họ hàng đến hàng thừa kế thứ ba thì đương nhiên là thành viên của công ty.

Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về Người thừa kế theo pháp luật:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại".

Ông C tặng cho con rể là anh D không thuộc hàng thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự, nên ông D không đương nhiên là thành viên của công ty A.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Có phải nộp thuế khi góp vốn bằng tài sản không ? Tính thuế chuyển nhượng đối với bất động sản góp vốn ?

3. Hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp ?

Phần vốn góp, cổ phần trong công ty có tư cách pháp nhân (“Phần Vốn Góp”) là các tài sản vô hình có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự thông qua hợp đồng chuyển nhượng. Hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng làm phát sinh không những quyền và nghĩa vụ của các bên đối với nhau mà còn liên quan tới công ty phát hành Phần Vốn Góp (“Công Ty”).

Hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp

Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Ta thử lần lượt tìm hiểu các vấn đề pháp lý liên quan đến hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng Phần Vốn Góp đối với các bên giao kết và đối với Công Ty cũng như đối với người thứ ba.

1. Đối với các bên giao kết hợp đồng

Phần Vốn Góp là một tài sản vô hình. Tài sản này không chiếm hữu được. Đó chỉ là quyền định giá được bằng tiền và không gắn liền với bất kỳ vật cụ thể, xác định nào. Luật pháp Việt Nam gọi chung những tài sản vô hình đó là quyền tài sản. Việc mua bán quyền tài sản được điều chỉnh bởi Điều 442 Bộ luật dân sự và một số các quy định riêng tại luật chuyên ngành như Luật Doanh Nghiệp, Luật Đầu Tư…

Giống như hợp đồng mua bán có đối tượng là một vật, hợp đồng chuyển nhượng quyền tài sản (Phần Vốn Góp) được đặc trưng bởi việc bên chuyển nhượng có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu Phần Vốn Góp cho bên nhận chuyển nhượng. Đổi lại, bên nhận chuyển nhượng phải trả tiền cho bên chuyển nhượng (Điều 442 khoản 1 Bộ luật dân sự).

Ta thừa nhận rằng, nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng. Thế nhưng chỉ có chừng đó nghĩa vụ liệu có đủ để đảm bảo cho quyền lợi của bên giao kết còn lại của hợp đồng? Ở các hợp đồng mua bán có đối tượng là một vật, người bán có nghĩa vụ cung cấp các thông tin cần thiết về tài sản, bảo đảm chất lượng vật mua bán và bảo hành đối với vật mua bán cho người mua.

Như vậy, quyền của mua đã được luật định (Điều 435, 437, 438 Bộ luật dân sự). Phần Vốn Góp, như ta đã biết, chỉ là một quyền tài sản – một tài sản vô hình mà không thể nhận biết được bằng các giác quan tiếp xúc. Bên nhận chuyển nhượng tự nhận định giá trị của Phần Vốn Góp và chấp nhận giá chuyển nhượng với bên chuyển nhượng chủ yếu trên cơ sỏ các thông tin về Phần Vốn Góp (có thể do họ tự thu thập hoặc do bên chuyển nhượng cung cấp). Các thông tin này là các thông tin đặc biệt, bởi vì có liên quan tới tình trạng hoạt động của Công Ty phát hành Phần Vốn Góp, nhất là tình hình tài chính. Giả thiết rằng bên nhận chuyển nhưng đã cung cấp các thông tin không đầy đủ và trung thực cho bên nhận chuyển nhượng, và do đó, dẫn tới việc bên nhận chuyển nhượng có sự nhầm lẫn về giá trị của Phần Vốn Góp. Thế thì, trong hoàn cảnh mà luật không quy định rằng cung cấp thông tin và bảo đảm giá trị của Phần Vốn Góp là nghĩa vụ của bên chuyển nhượng thì bên nhận chuyển nhượng liệu có quyền yêu cầu đền bù thiệt hại hoặc huỷ bỏ hợp đồng? Tất nhiên, bên nhận chuyển nhượng hoàn toàn có thể bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách ghi nhận các tình huống dự liệu này thông qua các điều khoản ràng buộc một cách rành mạch trong hợp đồng chuyển nhượng. Nhưng nếu không có các điều khoản như thế, bên nhận chuyển nhượng sẽ phải làm gì để bảo đảm lợi ích của mình? Liệu có thể áp dụng tương tự pháp luật các quyền và nghĩa vụ của bên mua và bên bán trong hợp đồng mua bán vật cho hợp đồng mua bán quyền tài sản? Chưa có câu trả lời dứt khoát của luật viết cho vấn đề này.

Trong luật của Cộng hoà Pháp, người chuyển nhượng phần hùn và cổ phần trong công ty có nghĩa vụ của người bán đối với người mua giống như các hợp đồng mua bán vật hữu hình, đặc biệt là các nghĩa vụ đảm bảo về các khuyết tật của sự ưng thuận (do sự nhầm lẫn, bị lừa dối hay ép buộc…) và đảm bảo về các khuyết tật bị che dấu (ví dụ như đảm bảo về khả năng thanh toán của công ty tại thời điểm giao kết hợp đồng chuyển nhượng)[ii] .

Đối với các tài sản hữu hình, nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu của bên bán cho bên mua được coi là hoàn thành khi vật được giao cho bên mua (đối với tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu) hoặc khi hoàn thành việc đăng ký quyền sở hữu cho bên mua (đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu). Đối với tài sản vô hình, thời điểm chuyển giao quyền sỏ hữu là thời điểm bên mua nhận được giấy tờ xác nhận về quyền sở hữu đối với tài sản đó hoặc từ thời điểm đăng ký việc chuyển giao quyền sở hữu (Điều 442 khoản 3Bộ Luật dân sự). Vấn đề là Phần Vốn Góp thuộc loại tài sản nào: phải đăng ký quyền sở hữu hay không phải đăng ký quyền sở hữu?

2. Đối với Công Ty và người thứ ba

Hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng Phần Vốn Góp giữa các bên giao kết chỉ phát sinh hiệu lực đối với Công Ty khi đăng ký vào sổ thành viên/cổ đông công ty (Điều 61 khoản 2 Luật doanh nghiệp) hoặc khi được cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư phê chuẩn (đối với Phần Vốn Góp trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Luật viết cũng như học thuyết pháp lý tại Việt Nam chưa từng có câu trả lời lý giải về ý nghĩa pháp lý của việc đăng ký: đây là việc đăng ký quyền sở hữu tài sản hay việc đăng ký còn mang một ý nghĩa khác?

Tại Cộng hoà Pháp, người nhận chuyển nhượng Phần Vốn Góp phải làm thủ tục thông báo cho Công Ty về việc chuyển nhượng bằng một công chứng thư. Việc thông báo này được học thuyết pháp lý lý giải như sau: Người “sở hữu” Phần Vốn Góp có một quyền chủ nợ kép [i] đối với Công Ty: một mặt, họ có quyền yêu cầu Công Ty trả một khoản lợi nhuận/cổ tức hàng năm từ lợi nhuận có thế chia của Công Ty; mặt khác, họ có quyền yêu cầu Công Ty chia tài sản còn lại của Công Ty khi Công Ty giải thể tương ứng với giá trị Phần Vốn Góp của họ. Và bởi vì Phần Vốn Góp là một quyền chủ nợ, nên người “sở hữu” Phần Vốn Góp là chủ nợ (người có quyền) và Công Ty là người mắc nợ (người có nghĩa vụ). Hợp đồng chuyển nhượng Phần Vốn Góp mang tính chất một hợp đồng chuyền nhượng quyền chủ nợ, do vậy, người có quyền (người nhận chuyển nhượng) phải tuân thủ thủ tục thông báo cho người có nghĩa vụ (Công Ty) theo quy định của điều 1690 Bộ dân luật Pháp, chứ không hẳn là việc thông báo /đăng ký với Công Ty mang ý nghĩa của hành vi đăng ký quyền “sở hữu” tài sản. Hay nói cách khác, chưa hẳn Phần Vốn Góp là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu.

Ngày nay, các giao dịch liên quan tới sự di chuyển của tài sản Phần Vốn Góp càng ngày càng nhiều và trở nên phổ biến. Để các giao dịch dân sự liên quan tới Phần Vốn Góp diễn ra một cách an toàn và hợp pháp, hệ thống pháp luật cần phải nhanh chóng hoàn thiện và tiến dần tới một hành lang pháp lý phù hợp với tập quán chung được thừa nhận rộng rãi bởi các nước trên thế giới./.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Đơn vị sự nghiệp công lập có được góp vốn bằng tài sản để thành lập doanh nghiệp hay không ?

4. Hướng dẫn thủ tục mua lại vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn ?

Thưa luật sư, Em nhờ luật sư chút ah: Công ty tnhh A có 3 sáng lập viên là A,B,C vốn điều lệ là 600 triệu ( mỗi người góp 2 trăm triệu) . Tháng 3/ 2013 công ty quyết định tăng vốn điều lệ lên 900 triệu đồng bằng cách tăng vốn góp của các thành viên mỗi người là 100 triệu đồng nữa, do chưa có tiền nên A đã vay của B 100 triệu để góp vốn và cam kết 5 tháng sau sẽ trả.
Hết 5 tháng A đã không trả được nợ cho B . B đã đề nghị thanh toán bằng vốn góp vào công ty nhưng A ko chấp nhận. A đã đề nghị công ty mua lại vốn góp của mình nhưng công ty từ chối . Tháng 4/ 2004, A đã khởi kiện công ty tại tòa án có thẩm quyền. Vậy A có thể thực hiện được yêu cầu của mình hay không ?
Em cảm ơn!

Luật sư trả lời:

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 , hợp đồng giữa A và B được coi là hợp đồng vay tài sản ( cụ thể là vay 100 triệu ) , hai bên không thỏa thuận về việc nếu A không trả tiền mặt cho B đúng thời hạn hai bên giao kết thì sẽ trả bằng số vốn góp . Chính vì không có thỏa thuận này nên B không có quyền yêu cầu A phải trả nợ bằng phần vốn góp mà chỉ có quyền yêu cầu trả nợ bằng tiền .

Theo quy định tại Điều 51 Luật doanh nghiệp năm 2020 (bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021), quy định cụ thể như sau:

"Điều 51. Mua lại phần vốn góp

1. Thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình nếu thành viên đó đã bỏ phiếu không tán thành đối với nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên về vấn đề sau đây:

a) Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên;

b) Tổ chức lại công ty;

c) Trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty.

2. Yêu cầu mua lại phần vốn góp phải bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông qua nghị quyết, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của thành viên quy định tại khoản 1 Điều này thì công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên đó theo giá thị trường hoặc giá được xác định theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty, trừ trường hợp hai bên thỏa thuận được về giá. Việc thanh toán chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.

4. Trường hợp công ty không thanh toán được phần vốn góp được yêu cầu mua lại theo quy định tại khoản 3 Điều này thì thành viên đó có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người không phải là thành viên công ty".

Vậy việc A chỉ có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình khi công ty có cam kết về việc mua lại phần vốn góp của A hoặc thuộc trường hợp quy định tại điều 52 nêu trên , nếu công ty không đồng ý với việc mua lại phần vốn góp của A thì A có quyền chuyển nhượng lại phần vốn này cho một cá nhan hoặc tổ chức khác .

Vậy nếu công ty cam kết mua lại phần vốn góp của A thì A mới có quyền khởi kiện và khả năng giành được quyền lợi mới cao.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục tăng vốn điều lệ bằng tài sản góp vốn ? Cách chuyển phần vốn góp trong công ty thực hiện thế nào ?

5. Có được bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng phần vốn góp ?

Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ[1]. Đổi lại việc góp vốn, thành viên góp vốn công ty trách nhiệm hữu hạn có quyền tham gia vào đời sống của doanh nghiệp và được chia lợi nhuận của doanh nghiệp.

Hướng dẫn thủ tục mua lại vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn ?

Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Tại nhiều nước trên thế giới (Anh, Pháp…) phần vốn góp được sử dụng phổ biến như một loại tài sản bảo đảm trong khi đó tại Việt Nam, bên nhận bảo đảm trong đó có các ngân hàng thường không chấp nhận giao dịch bảo đảm này. Phải chăng pháp luật Việt Nam còn chưa quy định về biện pháp bảo đảm này ? Bài viết này sẽ đưa lại một góc nhìn về vấn đề này và đưa ra một số gợi ý cho việc hoàn thiện quy định pháp luật của Việt Nam.

1. Đối tượng của giao dịch bảo đảm

Đối tượng của giao dịch bảo đảm theo Bộ luật dân sự: điều 322 của Bộ luật dân sự công nhận quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp là một loại quyền tài sản được phép dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo quy định chung của pháp luật thực định, thế chấp là giao dịch bảo đảm được áp dụng đối với các quyền tài sản bởi hai lý do chính. Một là, quyền tài sản nói chung là các tài sản vô hình và do đó không thể chuyển giao về mặt vật chất cho bên nhận bảo đảm nên không thể là đối tượng của cầm cố. Hai là, trong giao dịch bảo đảm có đối tượng là quyền tài sản, bên thế chấp chỉ giao giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của bên thế chấp đối với tài sản cho bên nhận thế chấp và trong quá trình thế chấp, bên thế chấp vẫn « nắm giữ » tài sản thế chấp[2] và được thực hiện một số quyền của chủ sở hữu đối với quyền tài sản[3]. Tuy vậy chính việc điều 322 của Bộ luật dân sự quy định về giao dịch bảo đảm có đối tượng là quyền tài sản đối với phần góp vốn trong doanh nghiệp lại dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng chế định này bởi tính chất khá chung chung của khái niệm quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp. Có thể hiểu quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp gồm các quyền mà thành viên góp vốn có được sau khi thực hiện việc góp vốn vào doanh nghiệp được quy định tại điều 41 của Luật doanh nghiệp (quyền biểu quyết thông qua các quyết định của công ty, quyền được chia lợi nhuận, quyền được ưu tiên góp thêm vốn,…). Tuy nhiên khi nhận thế chấp, sẽ chắc chắn hơn đối với ngân hàng khi nhận phần vốn góp tức là nhận thế chấp tài sản góp vốn của một thành viên góp vốn nhất định như tiền Việt Nam, quyền sử dụng đất, ngoại tệ tự do chuyển đổi[4]…hơn là nhận các quyền của thành viên góp vốn vì pháp luật doanh nghiệp không quy định việc định đoạt quyền của thành viên góp vốn mà chỉ quy định việc định đoạt phần vốn góp.

Đối tượng của giao dịch bảo đảm theo Luật doanh nghiệp : khác với quy định của Bộ luật dân sự, điều 140 của Luật doanh nghiệp khi quy định về quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn cho phép thành viên góp vốn của công ty hợp danh được định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách thế chấp, cầm cố[5]. Tức là Luật doanh nghiệp cho phép thực hiện giao dịch bảo đảm đối với phần vốn góp. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp không nêu rõ việc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có quyền cầm cố hay thế chấp đối với phần góp vốn của mình hay không (điểm h khoản 1 điều 41) như trong trường hợp công ty hợp danh (điểm e, khoản 1 điều 140). Tuy điểm h khoản 1 điều 41 quy định mở là « thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có thể định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách khác theo quy định của pháp luật và điều lệ của công ty » nhưng thật khó có thể hình dung giá trị pháp lý của việc thế chấp phần vốn góp nếu chỉ được quy định trong điều lệ của công ty ! Không hiểu vì lý do gì mà nhà làm luật đã bỏ quên quyền của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn được sử dụng phần vốn góp của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong khi nếu được thực hiện quyền này có thể giúp cho thành viên góp vốn huy động được nguồn tín dụng hữu ích.

Hướng tiếp cận nào ? Theo quan điểm của tác giả, Bộ luật dân sự nên thay khái niệm quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp bằng khái niệm phần vốn góp và Luật doanh nghiệp nên cho phép thực hiện việc thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn vì các lý do sau đây :

- Về bản chất phần vốn góp được phân tích là một quyền chủ nợ của thành viên góp vốn đối với công ty cho nên tự thân nó là một quyền tài sản có thể trở thành đối tượng của giao dịch bảo đảm.

- Điều 140 của Luật doanh nghiệp đã chính thức công nhận việc thế chấp phần vốn góp trong công ty hợp danh, không có lý do gì mà không công nhận việc thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn.

- Pháp luật doanh nghiệp công nhận một cách rộng rãi việc định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn đặc biệt thông qua việc chuyển nhượng phần vốn góp[6] và thông qua việc sử dụng phần vốn góp để trả nợ[7], tức là công nhận phần vốn góp là một loại tài sản có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự nên việc thế chấp phần vốn góp sẽ vẫn tuân thủ chung tinh thần của Luật doanh nghiệp[8].

2. Một số rủi ro của việc nhận thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn

Nhìn chung, các hệ quả pháp lý của việc thế chấp phần vốn góp tương đối phức tạp. Tuy vậy, chừng nào chưa tiến hành xử lý tài sản bảo đảm, bên bảo đảm vẫn là bên duy nhất được thực hiện đầy đủ các quyền của một thành viên góp vốn theo quy định của pháp luật doanh nghiệp. Chẳng hạn, bên bảo đảm vẫn được thực hiện quyền biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên với số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp [9] hay vẫn được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp. Về phần mình trong thời gian này, bên nhận thế chấp có thể đứng trước một số rủi ro nhất định.

Rủi ro liên quan đến việc sụt giảm giá trị của phần vốn góp : một rủi ro mà chúng ta có thể nghĩ ngay đến là việc giá trị phần vốn góp được thế chấp bị giảm sút do việc quản lý công ty không tốt hay trong tình huống xấu hơn do động cơ xấu của bên bảo đảm vì bên bảo đảm vẫn thực hiện quyền biểu quyết nên vẫn tham gia vào việc quản lý công ty. Giải pháp cho ngân hàng trong trường hợp này là cấp cho bên nhận thế chấp một khoản tín dụng có giá trị thấp hơn giá trị phần vốn góp trên cơ sở tính đến hệ số rủi ro này hoặc quy định trong hợp đồng thế chấp là bên thế chấp phải bổ sung tài sản góp vốn trong trường hợp giảm giá trị phần vốn góp đã thế chấp hoặc là trong trường hợp này, khoản vay sẽ lập tức đến hạn thanh toán (acceleration clause).

Rủi ro liên quan đến việc thay đổi phần vốn góp : một rủi ro khác đối với bên nhận thế chấp là việc phần vốn góp thế chấp biến mất do việc công ty giảm cố ý vốn điều lệ nhằm làm vô hiệu hóa giao dịch thế chấp vì tài sản thế chấp không còn sau đó lại thực hiện tăng vốn điều lệ. Có thể quy định trong hợp đồng là trong trường hợp này, khoản vay sẽ lập tức đến hạn thanh toán nếu bên thế chấp không bổ sung tài sản thế chấp khác hoặc quy định phần vốn góp mới của bên thế chấp vào công ty sẽ tự động trở thành đối tượng của hợp đồng thế chấp.

3. Một số gợi ý cụ thể hoàn thiện pháp luật về thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn

Nhìn chung, pháp luật thực định còn rất thiếu các quy định về thế chấp phần vốn góp cả ở trên phương diện xác lập hợp đồng thế chấp lẫn xử lý tài sản thế chấp vì ngoài một vài quy định mang tính nguyên tắc như trình bày ở trên, không có quy định nào của Bộ luật dân sự, Nghị định 163 hay Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành đề cập đến biện pháp bảo đảm này. Có lẽ đây cũng chính là nguyên nhân của việc các ngân hàng hiện nay thường do dự hay không chấp nhận biện pháp bảo đảm này dù pháp luật không cấm. Xin nêu một số gợi ý sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật thực định như sau :

- Thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn phải được quy định trong Bộ luật dân sự (công nhận việc thế chấp phần vốn góp với tư cách là thế chấp một quyền tài sản) và trong Luật doanh nghiệp (đối với các vấn đề cụ thể của chế định này, đặc biệt là việc chấp thuận bên nhận thế chấp với tư cách là thành viên công ty thay cho bên thế chấp trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm và việc chuyển nhượng phần vốn góp cho bên thứ ba).

- Cần thống nhất cách gọi loại hình giao dịch bảo đảm này theo hướng công nhận đây là một trong các biện pháp thế chấp để thống nhất với cách gọi tên cách giao dịch bảo đảm đối với các quyền tài sản nói chung. Hơn nữa không thể cầm cố phần vốn góp vì ở đây không có sự chuyển giao phần vốn góp vì như đã phân tích ở trên trong thời hạn có hiệu lực của giao dịch bảo đảm, bên bảo đảm vẫn được thực hiện đầy đủ các quyền của thành viên góp vốn.

- Nên công nhận cả việc thế chấp phần vốn góp hình thành trong tương lai : theo quy định tại điều 342 của Bộ luật dân sự, tài sản thế chấp có thể là tài sản hình thành trong tương lai. Pháp luật doanh nghiệp cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn có thể thực hiện việc tăng vốn điều lệ[10], tức là luôn có khả năng thành viên góp vốn sẽ được phân chia số vốn góp thêm. Do đó về nguyên tắc, có thể thế chấp cả phần tài sản hình thành trong tương lai này.

- Thiết lập các quy định về việc chấp thuận giao dịch thế chấp phần vốn góp : theo quy định của Luật doanh nghiệp khi chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác, thành viên góp vốn phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện và chỉ được chuyển nhượng cho người khác không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán[11]. Hơn nữa trong trường hợp thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ thì người nhận thanh toán chỉ được trở thành thành viên của công ty nếu được các thành viên còn lại chấp thuận, nếu không sẽ bắt buộc phải chào bán phần vốn góp đó[12]. Có thể thấy tinh thần của Luật doanh nghiệp là hạn chế sự xuất hiện của thành viên mới trong công ty và tôn trọng quyết định chấp thuận hay không chấp thuận thành viên mới của các thành viên còn lại. Để tránh xung đột với các quy định này, nên quy định trong trường hợp xử lý tài sản thế chấp là bên nhận thế chấp chỉ có thể trở thành thành viên của công ty thay cho bên thế chấp nếu được các thành viên còn lại chấp thuận, và nếu không được chấp thuận thì sẽ có quyền chào bán phần vốn góp. Việc chấp thuận bên nhận thế chấp có thể diễn ra ngay trong giai đoạn xác lập hợp đồng thế chấp thông qua việc gửi dự thảo hợp đồng thế chấp đến công ty để các thành viên trong Hội đồng thành viên xem xét quyết định và trong trường hợp này khi xử lý tài sản bảo đảm không cần thiết phải xin chấp thuận bên nhận thế chấp như một thành viên thay thế bên thế chấp trong công ty. Các ngân hàng với tư cách là bên nhận thế chấp khi xử lý tài sản thế chấp sẽ có xu hướng chuyển nhượng phần vốn góp hơn là trở thành thành viên công ty. Quyền chủ động bán tài sản của ngân hàng (tìm đối tác, quyết định giá và phương thức bán…) cần được tôn trọng. Cũng cần lưu ý thêm rằng hiện nay theo quy định tại khoản 2, điều 70, Nghị định 163, trong trường hợp pháp luật quy định việc chuyển quyền sở hữu tài sản phải có sự đồng ý bằng văn bản của chủ sở hữu, thì hợp đồng thế chấp tài sản được dùng để thay thế giấy tờ đó, tức là nếu trong trường hợp bên nhận thế chấp bán phần vốn góp cho bên thứ ba, để bên mua có thể được đăng ký trở thành viên công ty, hợp đồng thế chấp có thể được xem là bằng chứng về việc bên thế chấp đã đồng ý cho việc chuyển quyền sở hữu sang bên thứ ba này.

Có thể thấy hiện nay quy định về giao dịch bảo đảm đối với phần vốn góp còn chưa rõ ràng và đầy đủ. Đây là một điều đáng tiếc bởi vì thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn có chi phí thấp và hơn nữa phần vốn góp có thể là tài sản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của thành viên góp vốn là bên đi vay ngân hàng nên vô tình chúng ta đang lãng phí loại hình tài sản thế chấp này.

>> Xem thêm:  Phần vốn góp thừa của thành viên mới có phải tính vào thu nhập chịu thuế TNDN không ?