Mục đích của việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là khắc phục những tổn thất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu khi có hành vi gây thiệt hại cũng như có sự kiện tài sản gây thiệt hại. Trên cơ sở đó nhằm duy trì trật tự xã hội, đảm bảo sự cho lẽ công bằng được áp dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống. Để có thể đạt được những mục đích này, không chỉ đòi hỏi các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải được ban hành kịp thời, đầy đủ và đúng đắn, mà còn đòi hỏi việc áp dụng các quy định này cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Đây chính là lý do khẳng định việc xây dựng các nguyên tắc về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là hoàn toàn cần thiết.

Theo quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 thì có 5 nguyên tắc:

Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Nguyên tắc 1:

"Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

Trong Bộ luật dân sự trước đây, trong nguyên tắc bồi thường thiệt hại có ghi “thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời”. Tuy nhiên, trong Bộ luật dân sự năm 2015 lại quy định: “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời”. Sự thay đổi này cho thấy chỉ những thiệt hại thực tế mới được bồi thường. Những thiệt hại do suy đoán hoặc không có căn cứ xác định thì không được bồi thường. Trong nguyên tắc thứ nhất, có ba nguyên tắc nhỏ được nhắc đến đó là nguyên tắc bồi thường toàn bộ, nguyên tắc bồi thường kịp thời và nguyên tắc thỏa thuận về mức bồi thường cũng như hình thức và phương thức bồi thường.

- Bồi thường toàn bộ được hiểu là thiệt hại xảy ra bao nhiêu thì phải được bồi thường bấy nhiêu. Đây là nguyên tắc được áp dụng trong hầu hết các vụ việc liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, thiệt hại xảy ra trên thực tế có được bồi thường toàn bộ hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: người bị thiệt hại có đưa ra được đầy đủ các căn cứ chứng minh cho tất cả các loại thiệt hại không (có những thiệt hại rất khó chứng minh như tiền xe ôm đi lại để kiểm tra sức khỏe); người bị thiệt hại có lỗi đối với thiệt hại xảy ra với mình không; các bên có thỏa thuận về mức bồi thường hay không; người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có được giảm mức bồi thường hay không. Do đó, nhiều vụ việc xảy ra trên thực tể, thiệt hại thực tế có thể được xác định cụ thể nhưng người bị thiệt hại có thể không được bồi thường toàn bộ thiệt hại.

Thực tế cho thấy, nguyên tắc bồi thường toàn bộ hầu như chỉ áp dụng được với trường hợp thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, bởi vì bằng cách này hay cách khác, giá trị của tài sản bị xâm phạm đều có thể được xác định một cách cụ thể bằng các đơn vị đo lường. Trong trường hợp đối tượng bị xâm phạm là các giá trị nhân thân như sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín thi việc xác định thiệt hại sẽ rất khó, bởi các giá trị nhân thân và tiền tệ không phải là các đại lượng ngang giá nên không thể dùng tiền để đo giá trị nhân thân bị tổn hại (Ví dụ: Khi sức khỏe bị xâm phạm thì có thể bồi thường được các chi phí để chữa lành vết thương, nhưng không thể bù đắp được các bộ phận cơ thể đã bị tổn hại như chân, tay,...). Do đó, khi các giá trị nhân thân bị xâm phạm, mức bồi thường thiệt hại chỉ là tương đối chứ không thể tuyệt đối như trường hợp tài sản bị xâm phạm.

- Bồi thường kịp thời được hiểu là ngay khi thiệt hại xảy ra, người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải nhanh chóng khắc phục tổn thất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu. Việc khắc phục này thậm chí phải được thực hiện trước khi tranh chấp về bồi thường thiệt hại được Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Nguyên tắc này được thể hiện trong một số trường hợp bồi thường thiệt hại cụ thể như: bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra; bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra.

- Về nguyên tắc, khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, các chủ thể có quyền thỏa thuận về mọi vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đó. Do đó, trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về tất cả các vấn đề liên quan như mức bồi thường, hình thức bồi thường, phương thức bồi thường. Việc thỏa thuận này có thể diễn ra trước, trong hoặc sau khi tranh chấp về bồi thường thiệt hại đã được Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Trong trường họp các bên không có thỏa thuận, các vấn đề pháp lý có liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật. Ví dụ, nếu không thỏa thuận về mức bồi thường thì thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ.

Nguyên tắc 2:

>> Xem thêm:  Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra ?

"Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình."

- Theo Bộ luật dân sự cũ, người được giảm mức bồi thường là “người gây thiệt hại”. Tuy nhiên, theo Bộ luật dân sự năm 2015, người được giảm mức bồi thường được xác định là “người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”. Sự thay đổi này là phù hợp, bởi vì người phải bồi thường thiệt hại đôi khi không phải là người gây thiệt hại. Hơn nữa, nếu theo quy định trước đây, nhiều người sẽ cho rằng chỉ những người nào trực tiếp gây thiệt hại mà phải bồi thường thì mới có thể được giảm mức bồi thường, còn những người không gây thiệt hại nhưng phải bồi thường, ví dụ: cha mẹ bồi thường thiệt hại do con dưới 15 tuổi gây thiệt hại) thì không được giảm mức bồi thường.

- Theo BLDS cũ, chỉ những người có “lỗi vô ý” mới được giảm mức bồi thường. Theo Bộ luật dân sự năm 2015, người được giảm mức bồi thường có thể là “người không có lồi hoặc “có lỗi vô ý”. Có sự thay đổi bởi vì nếu quy định như BLDS trước đây là không phù hợp, điều này dẫn đến sự khó khăn trong việc áp dụng nguyên tắc giảm mức bồi thường trong trường hợp người chịu trách nhiệm bồi thường mà “không có lỗi”.

- Theo Bộ luật dân sự cũ thì người được giảm mức bồi thường chỉ là những người gây ra thiệt hại lớn hơn khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình. Tuy nhiên, trong BLDS năm 2015, cụm từ “trước mắt và lâu dài” đã được loại bỏ. Tức là thiệt hại chỉ cần lớn hơn khả năng kinh tế tại thời điểm giải quyết vấn đề bồi thường thì mức bồi thường đã có thể được giảm. Điều này là phù hợp, bởi vì việc xác định khả năng kinh tế ở một thời điểm trong tương lai của người gây thiệt hại là không thực tế và khó xác định.

Nguyên tắc 3:

"Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường."

Theo nguyên tắc này, mức bồi thường thiệt hại có thể được thay đổi so với mức bồi thường tại thời điểm Tòa án giải quyết tranh chấp. Sự thay đổi này có thể là tăng lên hoặc giảm đi so với mức bồi thường ban đầu. Cả bên bồi thường và bên được bồi thường đều có quyền đưa ra yêu cầu thay đổi mức bồi thường này. Bên nào đưa ra yêu cầu thay đổi thì phải chứng minh cho yêu cầu của mình. Việc thay đổi mức bồi thường chỉ đặt ra đối với trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động hoặc người bị thiệt hại chết. Đây là những trường hợp mà việc bồi thường thiệt hại không được thực hiện một lần mà kéo dài trong một khoảng thời gian do Tòa án xác định. Nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền lợi của các bên, mà còn bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc khác như nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ.

Nguyên tắc 4:

"Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra."

>> Xem thêm:  Hiện nay trong thực tiễn còn tồn tại vấn đề “xác định nhầm gia cầm là súc vật" và xác định cả “lỗi của súc vật” không?

Đây không phải là quy định mới xuất hiện trong BLDS năm 2015, mà quy định này đã được đề cập trong BLDS trước đây. Tuy nhiên, điểm mới thể hiện ở chỗ, trong BLDS trước đây, quy định này được coi là một trong các trường hợp bồi thường cụ thể. Đến BLDS năm 2015, đây lại là một nguyên tắc bồi thường thiệt hại. Có điểm mới bởi vì quy định này có thể áp dụng chung cho mọi trường hợp bồi thường thiệt hại trên thực tế, bao gồm cả thiệt hại do hành vi gây ra và thiệt hại do tài sản gây ra.

Nguyên tắc 5:

"Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình"

Đây là nguyên tắc bồi thường thiệt hại mới trong đề cập trong BLDS năm 2015. Điểm mới này là một sự tiến bộ so với BLDS trước đây. Nó cụ thể hóa một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015 đó là: “Cả nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực”. Tuy nhiên, quy định này cũng có hạn chế ở chỗ, nếu thiệt hại đã xảy ngay khi có hành vi xâm phạm mà việc ngăn chặn, hạn chế cũng không thể làm cho những thiệt hại “đã xảy ra” trở thành “chưa xảy ra” thì việc không ngăn chặn, hạn chế chỉ nên coi là một trong những yếu tố để giảm mức bồi thường. Do đó, quy định này nên được sửa đổi theo hướng như sau: “Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường một phần hoặc toàn bộ nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình”. Tức là nên thêm cụm từ “một phần hoặc toàn bộ” vào giữa cụm từ “không được bồi thường” và cụm từ “nếu thiệt hại xảy ra”.

Bài viết trên chỉ mang tính chất tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Áp dụng pháp luật vào giải quyết tranh chấp thực tiễn về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là bao lâu?

Trả lời:

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Câu hỏi: Nhiều người cùng gây thiệt hại thì bồi thường như thế nào?

Trả lời:

Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.

Câu hỏi: Có phải người giám hộ luôn phải bồi thường khi người được giám hộ gây thiệt hại không?

Trả lời:

Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.