1. Dịch vụ giám định thương mại là gì?

Dịch vụ giám định là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân thực hiện những công việc cần thiết để xác định tình trạng thực tế của hàng hoá, kết quả cung ứng dịch vụ và những nội dung khác theo yêu cầu của khách hàng.

Nội dung giám định

Giám định bao gồm một hoặc một số nội dung về số lượng, chất lượng, bao bì, giá trị hàng hoá, xuất xứ hàng hoá, tổn thất, độ an toàn, tiêu chuẩn vệ sinh, phòng dịch, kết quả thực hiện dịch vụ, phương pháp cung ứng dịch vụ và các nội dung khác theo yêu cầu của khách hàng.

Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại

Chỉ các thương nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giám định thương mại mới được phép thực hiện dịch vụ giám định và cấp chứng thư giám định.

2. Điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại

Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại phải có đủ các điều kiện sau đây:

  • Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật;
  • Có giám định viên đủ tiêu chuẩn sau đây:

– Có trình độ đại học hoặc cao đẳng phù hợp với yêu cầu của lĩnh vực giám định;

– Có chứng chỉ chuyên môn về lĩnh vực giám định trong trường hợp pháp luật quy định phải có chứng chỉ chuyên môn;

– Có ít nhất ba năm công tác trong lĩnh vực giám định hàng hoá, dịch vụ.

  • Có khả năng thực hiện quy trình, phương pháp giám định hàng hoá, dịch vụ theo quy định của pháp luật, tiêu chuẩn quốc tế hoặc đã được các nước áp dụng một cách phổ biến trong giám định hàng hoá, dịch vụ đó.

Phạm vi kinh doanh dịch vụ giám định thương mại

Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại chỉ được cung cấp dịch vụ giám định trong các lĩnh vực giám định khi có đủ các điều kiện sau: Có giám định viên đủ tiêu chuẩn; Có khả năng thực hiện quy trình, phương pháp giám định hàng hoá, dịch vụ theo quy định của pháp luật, tiêu chuẩn quốc tế hoặc đã được các nước áp dụng một cách phổ biến trong giám định hàng hoá, dịch vụ đó.

3. Thẩm quyền quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ giám định thương mại

  • Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh dịch vụ giám định thương mại với các nội dung quản lý cụ thể sau đây:

– Ban hành theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với Chính phủ ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới hoạt động kinh doanh dịch vụ giám định thương mại;

– Trực tiếp kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh dịch vụ giám định thương mại khi cần thiết;

– Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý theo thẩm quyền các hành vi vi phạm pháp luật về hoạt động kinh doanh dịch vụ giám định thương mại.

  • Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh dịch vụ giám định thương mại.
  • Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thương nhân đăng ký kinh doanh trong phạm vi quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh dịch vụ giám định thương mại.

4. Phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai

Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải chịu trách nhiệm phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai. Theo đó, yếu tố lỗi được xem xét để xác định chế tài áp dụng. Trách nhiệm vật chất của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định được phân biệt trong trường hợp lỗi vô ý và trường hợp lỗi cố ý cụ thể như sau:

Trường hợp lỗi cố ý, thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh cho khách hàng trực tiếp yêu cầu giám định.

Trường hợp lỗi vô ý, thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải trả tiền phạt cho khách hàng với mức phạt do các bên thỏa thuận nhưng không quá mười lần thù lao dịch vụ giám định.

Phạt vi phạm do chứng thư giám định có kết quả sai:

Theo quy định tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005, phạt vi phạm chỉ được áp dụng khi trong hợp đồng có thỏa thuận về việc áp dụng hình thức chế tài này trừ một số trường hợp miễn trách nhiệm được quy định tại Điều 294 Luật Thương mại năm 2005. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của mình thì phải trả tiền phạt cho khách hàng”. Như vậy, việc áp dụng chế tài phạt vi phạm trong trường hợp lỗi vô ý được hiểu là cần hay không cần sự thỏa thuận trước của các bên trong hợp đồng.

Trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định, điều kiện để áp dụng chế tài phạt vi phạm dù được giải thích là cần hay không cần yếu tố có thỏa thuận trước về việc áp dụng chế tài này đều không thỏa đáng. Nếu không cần sự thoả thuận trước (áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 thay vì Điều 300 Luật Thương mại năm 2005), nguyên tắc chung về điều kiện áp dụng chế tài phạt vi phạm tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005 cần ghi nhận trường hợp ngoại lệ. Sự thừa nhận này tạo tính thống nhất, đồng bộ trong quy định của pháp luật. Ngược lại, nếu lý giải cần có sự thỏa thuận trước trong hợp đồng về việc áp dụng chế tài phạt vi phạm, quy định tại khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 không đảm bảo được điều kiện này. Nội dung quy định thể hiện tại khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 sẽ khiến nhiều chủ thể cho rằng, việc thỏa thuận trước về việc áp dụng chế tài phạt vi phạm là không cần thiết. Khi vi phạm xảy ra, việc các bên thỏa thuận được vấn đề phạt vi phạm, thống nhất được mức phạt khi hợp đồng không quy định là rất khó khăn. Như vậy, nếu các bên không có thỏa thuận trước trong hợp đồng về việc áp dụng chế tài phạt vi phạm, có khả năng thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định sẽ không phải chịu một trách nhiệm vật chất nào trong trường hợp vi phạm pháp luật về kinh doanh dịch vụ giám định do lỗi vô ý.

Trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi cố ý, khoản 2 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trường hợp này, chế tài phạt vi phạm có được áp dụng theo nguyên tắc chung được quy định tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005 không? Nếu vận dụng Điều 300 Luật Thương mại năm 2005, chế tài phạt vi phạm vẫn được áp dụng đồng thời với chế tài bồi thường thiệt hại khi các bên có thỏa thuận trước trong hợp đồng về việc áp dụng chế tài phạt vi phạm thì mức phạt vi phạm được giới hạn ở mức nào? Cụ thể, mức phạt vi phạm bị khống chế không quá 10 (mười) lần phí dịch vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 266 hay không quá 8% giá trị hợp đồng bị vi phạm theo quy định tại Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 trong khi khoản 1 Điều 266 quy định cho trường hợp vi phạm do lỗi vô ý. Ngược lại, nếu vận dụng Điều 300 Luật Thương mại năm 2005 trong trường hợp lỗi cố ý thì Điều 300 Luật Thương mại năm 2005 cũng cần được vận dụng trong trường hợp lỗi vô ý để tạo tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật giám định thương mại.

Trên thực tế, chế tài phạt vi phạm chỉ có thể được áp dụng khi các bên có thỏa thuận trước trong hợp đồng. Mức phạt vi phạm trong trường hợp vi phạm do lỗi vô ý cũng như trường hợp vi phạm do lỗi cố ý đều bị khống chế không quá 10 (mười) lần phí giám định.

Luật Thương mại năm 1997 quy định chế tài phạt vi phạm với mức phạt bị khống chế không quá 10 (mười) lần phí giám định trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai theo thỏa thuận của hai bên mà không phân biệt lỗi vô ý hay lỗi cố ý. Sự không phân biệt yếu tố lỗi tại Luật Thương mại năm 1997 xét ở góc độ nào đó là phù hợp với tư duy pháp lý thể hiện tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005. Theo quy định tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005, yếu tố lỗi không là một trong những căn cứ để xác định phạt vi phạm. Tuy nhiên, Điều luật này đưa ra các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Như vậy, giống như pháp luật của nhiều nước trên thế giới, pháp luật thương mại Việt Nam tránh sử dụng khái niệm “lỗi” như một căn cứ để xác định trách nhiệm của bên không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng. Thay vì sử dụng khái niệm này, pháp luật thương mại đưa ra căn cứ miễn trừ trách nhiệm, theo đó, bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng bị coi là có lỗi và phải chịu phạt vi phạm nếu không chứng minh được việc vi phạm hợp đồng là do trường hợp bất khả kháng hay trường hợp được miễn trách nhiệm theo thỏa thuận của các bên hoặc theo luật quy định. Đây là một trong những dấu hiệu cho thấy rằng, sau một thời gian đổi mới, chế định hợp đồng nước ta đã và đang bắt đầu vượt qua các thói quen và cách tư duy truyền thống để nhanh chóng hòa nhập vào quá trình toàn cầu hóa hiện nay. Qua đây có thể rút ra nhận xét, đối với trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, xét dưới góc độ kỹ thuật lập pháp, quy định tại khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 dường như đã đi ngược lại với tư duy pháp lý hiện nay.

5. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai

Khoản 2 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm pháp luật về kinh doanh dịch vụ giám định do lỗi cố ý. Trong khi đó, nguyên tắc phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 303 Luật Thương mại năm 2005 không xem lỗi là một trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm này. Như đã phân tích ở phần chế tài phạt vi phạm, vượt qua tư duy truyền thống, tư duy pháp lý ngày nay không coi yếu tố lỗi là một trong những căn cứ để xác định trách nhiệm của bên không thực hiện hay thực hiện không đúng hợp đồng. Trong khoa học pháp lý, vấn đề trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức chỉ được đặt ra đối với một con người cụ thể. Trong quan hệ hợp đồng kinh doanh – thương mại, chủ thể tham gia giao kết và thực hiện hợp đồng chủ yếu là các tổ chức kinh doanh. Do vậy, việc xác định một cách chính xác trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của các tổ chức càng khó khăn hơn so với việc xác định yếu tố này ở cá nhân. Có thể nói, quy định tại Điều 303 Luật Thương mại năm 2005 đã phù hợp với xu hướng pháp lý hiện nay. Tuy vậy, khoản 2 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005, dù được giải thích là quy định áp dụng với trường hợp cụ thể, dường như đang trở lại với tư duy pháp lý truyền thống trước đây.

Theo quy định của Luật Thương mại năm 1997, nếu các bên không thỏa thuận trước về chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp có vi phạm trong hoạt động giám định thì bên vi phạm chỉ phải chịu nộp tiền phạt, việc áp dụng đồng thời chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại cần có sự thỏa thuận trước của các bên. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 230 Luật Thương mại năm 1997 “phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây: Có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại vật chất, có mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại vật chất và có lỗi của vi phạm hợp đồng”. Như vậy, việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại theo Luật Thương mại năm 1997 cũng cần có yếu tố lỗi trong hành vi vi phạm, đồng thời còn phải có sự thỏa thuận trước về việc áp dụng chế tài này. Tuy nhiên, Luật Thương mại năm 1997 không phân chia thành lỗi cố ý hay vô ý làm căn cứ xác định mức độ trách nhiệm khi có hành vi vi phạm hợp đồng. Không thể xác định một cách chính xác trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của các tổ chức nên lỗi khi vi phạm hợp đồng theo quy định của Luật Thương mại năm 1997 là lỗi suy đoán.

Từ các phân tích trên cho thấy, khác với Luật Thương mại năm 1997, việc áp dụng chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai trong Luật Thương mại năm 2005 có sự phân chia yếu tố lỗi thành lỗi cố ý hay vô ý. Mặc dù sự phân biệt này có ý nghĩa đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định hơn so với quy định tương ứng trong Luật Thương mại năm 1997. Tuy nhiên, yếu tố lỗi là một phạm trù tâm lý vì nó được biểu biện thông qua trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của con người đối với hành vi của họ và hậu quả của những hành vi ấy. Do vậy, việc chứng minh lỗi cố ý hay vô ý không mang tính tuyệt đối và khó thực hiện. Đặc biệt, đối với chủ thể là một tổ chức như tổ chức giám định, việc xác định yếu tố lỗi càng khó thực hiện một cách chính xác. Xét về mặt ý nghĩa thực tiễn, hiệu quả của việc phân định yếu tố lỗi trong căn cứ xác định trách nhiệm không cao. Về mặt kỹ thuật lập pháp, sự phân biệt yếu tố lỗi trong quy định tại Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp kết quả giám định sai không rõ ràng, logic và đi ngược lại với xu hướng lập pháp được thể hiện tại Điều 300 và Điều 303 Luật Thương mại năm 2005.

Vấn đề đặt ra tiếp theo là trách nhiệm vật chất của cá nhân trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai. Hoạt động giám định được thực hiện khách quan, chính xác hay không phụ thuộc vào giám định viên, giám đốc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định. Yếu tố lỗi trong trường hợp kết quả giám định sai xét cho cùng thuộc về giám định viên hoặc/và giám đốc doanh nghiệp kinh doanh tổ chức giám định. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật chỉ quy định trách nhiệm vật chất của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định trong trường hợp kết quả giám định sai. Việc không quy định cụ thể trách nhiệm vật chất của cá nhân trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai sẽ dẫn đến tình trạng vi phạm nguyên tắc độc lập, khách quan, khoa học, chính xác không được khắc phục.