Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

Cơ sở pháp lý: 

- Hiến pháp năm 2013

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

1. Quyền bào chữa là gì?

Quyền bào chữa là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định để người bị buộc tội,  đương sự có thể sử dụng nhằm bác bỏ toàn bộ hoặc một phần sự buộc tội của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với họ. Quyền này còn được thể hiện thông qua việc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội trong quá trình tố tụng.

Thực hiện pháp luật về quyền bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong tố tụng hình sự là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật về bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật.

2. Pháp lý quốc tế về quyền bào chữa

Đây là nguyên tắc mang tính truyền thống của tố tụng hình sự, được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam từ rất sớm. Các văn kiện pháp lý quốc tế coi quyền bào chữa là một trong những quyền cơ bản của người bị buộc tội. Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 ghi nhận một người bị cáo buộc về hình sự được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 nêu rõ trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được hưởng một cách đầy đủ và hoàn toàn bình đẳng những bảo đảm tối thiểu như: “Có đủ thời gian và điều kiện thuận lợi để chuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn; được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của mình” (Điều 14).

3. Bảo đảm quyền bào chữa trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

3.1. Giai đoạn 1945-1992

Việt Nam, nhận thức rõ quyền của người bị buộc tội hình sự cần phải được bảo đảm đầy đủ ngay từ khi Nhà nước dân chủ nhân dân và Tòa án của chế độ mới ra đời, ngày 10-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 46/SL về việc tổ chức các đoàn thể luật sư. Hiến pháp năm 1946 được thông qua, một trong những quyền cơ bản của công dân là quyền bào chữa đã được ghi nhận: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” (Điều thứ 67). Quyền bào chữa tiếp tục được quy định trong các Hiến pháp năm 1959,1980, 1992 và được Hiến pháp năm 2013 phát triển thêm theo tinh thần cải cách tư pháp.

3.2. Hiến pháp 2013

Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, mở rộng hơn phạm vi người được bào chữa là người bị bắt: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” (khoản 4 Điều 31).

3.3. Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự tại Điều 16 và xây dựng một chương mới (Chương V) về bào chữa, thể hiện bước chuyển căn bản trong nhận thức toàn diện và sâu sắc tinh thần Hiến phápnăm 2013 về bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Theo đó, người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.

Phạm vi bào chữa:

Phạm vi người được bào chữa mở rộng hơn đến trợ giúp viên pháp lý và mở rộng phạm vi bắt buộc phải có người bào chữa:

1) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy đỉnh mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;

2) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.

Nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ; phải yêu cầu hoặc đề nghị Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa, yêu cầu hoặc đề nghị Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý; yêu cầu hoặc đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

Thời điểm tham gia bào chữa

Về thời điểm tham gia bào chữa, nói chung, người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

Quyền của người bào chữa

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định quyền của người bào chữa tương đối rộng, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp. Cụ thể:

- Người bào chữa có quyền gặp, hỏi người bị buộc tội;

- Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can mà không cần có sự đồng ý của Điều tra viên;

- Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác;

- Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

- Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

- Đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

- Đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

- Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

- Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến vể chứng cứ, tài liệu, đổ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

- Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;

- Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điểu tra;

- Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;

- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

- Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự...

Người bào chữa được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác mà không cần phải đề nghị với cơ quan tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm để có mặt khi hỏi cung bị can như quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự cũ năm 2003. Hơn thế nữa, người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không có quy định này). Một quy định mới hoàn toàn là người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ, kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá.

Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trinh bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa.

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm tiếp nhận, lập biên bản giao nhận, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án do người bào chữa cung cấp (Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

Tại phiên tòa sơ thẩm, với tính chất quan trọng của việc xét xử vụ án về nội dung, sự có mặt của người bào chữa là rất cần thiết. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định người bào chữa phải có mặt tại phiên tòa để bào chữa cho người mà mình đã nhận bào chữa. Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Nếu người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử. Trường hợp chỉ định người bào chữa mà người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trù trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa được triệu tập đến phiên tòa thì phải có mặt tại phiên tòa. Nếu họ vắng mặt thì Hội đồng xét xử giải quyết như sau: Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Trường hợp người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử. Trường hợp phải chỉ định người bào chữa mà người bào chữa vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, trường hợp xét thấy cần thiết hoặc có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải triệu tập người bào chữa. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nếu người bào chữa vắng mặt thì phiên tòa giám đốc thẩm vẫn được tiến hành.

Đối với người dưới 18 tuổi bị buộc tội, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định phải bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của họ. Cụ thể là người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Người đại diện của người dưới 18 tuổi bị buộc tội có quyền lựa chọn người bào chữa hoặc tự minh bào chữa cho người dưới 18 tuổi bị buộc tội. Trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi không có người bào chữa hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bào chữa thì Cơ quan điểu tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải chỉ định người bào chữa cho họ.

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự đã phát huy tác dụng thực tế trong suốt hơn 70 năm qua, từ khi nền tư pháp dần chủ nhân dân được thiết lập. Trong cải cách tư pháp, nhiều luật sư đã làm tốt vai trò tranh tụng tại phiên tòa, góp phần làm cho các phiên tòa xét xử trở nên dân chủ và công bằng hơn, bảo vệ có hiệu quả quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần hạn chế được oan, sai.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê