Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

- Bộ luật dân sự năm 2015

- Luật bảo vệ môi trường năm 2014

2. Tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài là gì?

Trong những năm gần đây, nguồn tài nguyên thiên nhiên toàn cầu ngày càng bị xâm hại nghiêm trọng bởi sự can thiệp của con người, đặc biệt là từ hoạt động sản xuất công nghiệp. Các hoạt động này không chỉ xâm hại và đe dọa sự phát triển bền vững của các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà còn gây ra những tác động xấu cho nền kinh tế, cho môi trường và cho sức khỏe, tài sản và thậm chí là tính mạng của con người. Cũng từ đây, phát sinh các tranh chấp liên quan đến bồi thường thiệt hại về môi trường nói chung và bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài nói riêng. Để giải quyết các tranh chấp này, pháp luật các nước đều xây dựng những biện pháp khác nhau, từ các biện pháp về hành chính, dân sự đến hình sự, trong đó, tư pháp quốc tế của các nước cũng đưa ra những quy định, những nguyên tắc riêng nhằm giải quyết tranh chấp về môi trường có yếu tố nước ngoài bằng tòa án.

Pháp luật Việt Nam không quy định khái niệm tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài. Do đó, để xác định được khái niệm này cần căn cứ vào các quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành khác nhau như Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS năm 2015), Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS năm 2015), Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (Luật BVMT năm 2014)… Theo quy định tại các văn bản này, một tranh chấp được xem là tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài phải thỏa mãn hai điều kiện: (i) là các tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường và (ii) các tranh chấp đó phải có yếu tố nước ngoài.

Luật BVMT năm 2014 không đưa ra khái niệm thế nào là tranh chấp về môi trường nói chung, cũng như tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường nói riêng, mà chỉ liệt kê các loại tranh chấp cụ thể về môi trường (Điều 161). Từ đây, có thể hiểu tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường là các tranh chấp ngoài hợp đồng, phát sinh từ những mâu thuẫn, bất đồng về quyền, nghĩa vụ và các lợi ích gắn với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường tại Việt Nam. Là một dạng tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tranh chấp này phải thỏa mãn đầy đủ bốn điều kiện cơ bản: (i) phải có hành vi gây ra thiệt hại; (ii) phải có thiệt hại xảy ra; (iii) phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra; (iv) người gây thiệt hại có lỗi.

Yếu tố nước ngoài của tranh chấp bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 663 BLDS năm 2015 và khoản 2 Điều 464 BLTTDS năm 2015 dựa trên ba tiêu chí: chủ thể, sự kiện pháp lý và đối tượng của quan hệ đó. Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt, các tranh chấp này có thể mở rộng đến một hoặc một số quốc gia khi hành vi gây thiệt hại xảy ra trên lãnh thổ nước ngoài, nhưng gây ra thiệt hại trên lãnh thổ Việt Nam hoặc hành vi gây thiệt hại trên lãnh thổ Việt Nam nhưng có thiệt hại phát sinh tại một hoặc nhiều quốc gia khác.

Từ những phân tích trên đây, có thể rút ra khái niệm tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài như sau: Tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài là tranh chấp ngoài hợp đồng phát sinh giữa các bên trong đó một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; hoặc là các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; hoặc là các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ đó ở nước ngoài và nội dung tranh chấp liên quan đến quyền, nghĩa vụ và các lợi ích gắn với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường tại Việt Nam.

3. Đặc điểm riêng của tranh chấp bồi thường thiệt hại về mồi trường có yếu tố nước ngoài

3.1. Thứ nhất, thiệt hại về môi trường

Thiệt hại về môi trường bao gồm hai loại thiệt hại là thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường và thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp của con người do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra. Trong đó, thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường là loại thiệt hại rất khó định lượng do việc lượng hóa sự suy giảm chức năng cũng như sự suy giảm tính hữu ích của môi trường thường phức tạp, khó đo lường vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan mà đôi khi con người cũng chưa thể xác định được. Ngoài ra, việc đánh giá sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường đòi hỏi phải có thời gian vì cần có sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức ở trung ương cũng như ở địa phương nơi môi trường bị thiệt hại và loại thiệt hại này thường rất lớn. Tương tự như vậy, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp của con người do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra cũng là loại thiệt hại đặc biệt vì nó không chỉ liên quan đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của một cá nhân hay tổ chức mà nó thường là ảnh hưởng đến số đông.

3.2. Thứ hai, chủ thể có quyền khởi kiện

Chủ thể có quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại được chia thành hai nhóm phụ thuộc vào đặc điểm của hai loại thiệt hại nêu trên. Đó là:

– Đối với các tranh chấp liên quan đến việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, chủ thể có quyền khởi kiện là Nhà nước. Vì theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013, Điều 197 BLDS năm 2015, các thành phần chủ yếu của môi trường thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu và chức năng, tính hữu ích của môi trường là một lợi ích công cộng mà người đảm bảo cho lợi ích này cũng là Nhà nước.

Tuy nhiên, có một điểm bất cập là pháp luật vẫn chưa xác định rõ trách nhiệm cụ thể thuộc về cơ quan nhà nước nào. Trước đây, theo quy định tại Nghị quyết số 02 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 12/05/2006 thì “Cơ quan Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) sẽ là chủ thể có quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại liên quan đến việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường. Song, Nghị quyết chưa có hướng dẫn cụ thể về cơ quan TN-MT. Trong thực tế, nếu theo nhiệm vụ chuyên môn thì cơ quan có thẩm quyền khởi kiện sẽ là Bộ TN-MT hoặc Sở TN-MT nhưng nếu xét theo phương diện quản lý thì cơ quan có thẩm quyền lại là UBND các cấp, nơi có thiệt hại về môi trường. Bất cập này có thể gây khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.

Để loại bỏ bất cập này, chúng tôi đề xuất giải pháp là pháp luật cần quy định cụ thể về chủ thể được quyền khởi kiện đối với các tranh chấp liên quan đến việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường và kiến nghị là nên trao cho cả Bộ TN-MT và Ủy ban nhân dân các cấp, nơi có thiệt hại về môi trường, cùng là cơ quan của Nhà nước được quyền khởi kiện đối với các tranh chấp liên quan đến việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường.

– Đối với những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp của con người thì chủ thể có quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại là các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại.Về nguyên tắc, Tòa án Việt Nam chỉ thụ lý giải quyết tranh chấp khi có đơn khởi kiện, của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện đó. Điều này có nghĩa là, khi có thiệt hại về môi trường thì mỗi cá nhân, tổ chức bị thiệt hại phải tự mình đứng đơn khởi kiện để đòi bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, khác với các tranh chấp dân sự khác, tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài thường có quy mô rộng, thiệt hại liên quan đến nhiều cá nhân, tổ chức. Do đó, với việc yêu cầu từng nguyên đơn phải có đơn khởi kiện riêng khiến cho việc giải quyết tranh chấp trở nên phức tạp, bởi vì với cùng một hành vi gây thiệt hại về môi trường, tòa án phải giải quyết từng ấy các tranh chấp khác nhau nếu thời điểm nộp đơn khởi kiện của các nguyên đơn khác nhau. Chính vì thế, cần có quy định về vấn đề khởi kiện tập thể cho loại tranh chấp phức tạp này. Về vấn đề này, Hội đồng châu Âu (EC) đã ban hành Chỉ thị số 98/27/EC ngày 19/5/1998 về việc khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cho phép bên bị thiệt hại có thể khởi kiện riêng lẻ hoặc khởi kiện tập thể; pháp luật Hoa Kỳ cũng cho phép khởi kiện tập thể, điển hình như vụ kiện của Nhóm bảo vệ quyền lợi của nạn nhân chất độc da cam (Dioxin) đối với 37 công ty sản xuất hóa chất của Hoa Kỳ vào năm 2009 tại tòa án Quận Brooklyn và Tòa Phúc thẩm số 2 tại New York…

4. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam

Tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, thông thường, đều thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam dựa trên các nguyên tắc của TPQT Việt Nam. Cụ thể, khoản 1(đ) Điều 469 BLTTDS năm 2015 quy định thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam đối với tranh chấp khi việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, về nguyên tắc, các tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường tại Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam. Tuy nhiên, khoản 1(c) Điều 470 BLTTDS năm 2015 quy định về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam dựa trên sự lựa chọn của các bên tranh chấp. Điều này có nghĩa là nếu các bên tranh chấp lựa chọn Tòa án Việt Nam là cơ quan giải quyết tranh chấp thì Tòa án Việt Nam sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài nhưng nếu các bên tranh chấp lựa chọn tòa án nước ngoài thì lúc này, Tòa án Việt Nam sẽ không có thẩm quyền.

Việc quy định về thẩm quyền riêng biệt nêu trên là chưa hợp lý. Bởi vì, với quy định này phán quyết của tòa án nước ngoài có thể không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam (theo khoản 4 Điều 439 và khoản 1 Điều 440 BLTTDS năm 2015). Điều này gây khó khăn cho tòa án nước ngoài được các bên lựa chọn trong việc xét xử khi sự kết nối giữa tranh chấp và yếu tố lãnh thổ có thể rất ít hoặc thậm chí là không có, đặc biệt là khó khăn do tính chất phức tạp của tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có YTNN. Ngoài ra, quy định này có thể sẽ gây khó khăn cho việc công nhận và cho thi hành phán quyết của tòa án nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt đối với các tranh chấp mà phán quyết được tuyên bởi tòa án của quốc gia không thừa nhận tranh chấp có thoả thuận lựa chọn tòa án là tranh chấp thuộc thẩm quyền riêng biệt.

Ví dụ, công ty A của nước Anh có chi nhánh tại Việt Nam, có hành vi xâm hại đến môi trường và gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức khác tại Việt Nam, trong đó có B là công dân của nước Anh, đang tạm trú tại Việt Nam. Các bên thỏa thuận mọi tranh chấp phát sinh sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam. Tuy nhiên, khi tranh chấp phát sinh, B khởi kiện A ra tòa án Anh. Nếu A phản đối vì cho rằng giữa hai bên đã có thoả thuận lựa chọn Tòa án Việt Nam, tòa án Anh có thể dựa trên học thuyết forum non conveniens và án lệ Boys v Chaplin để bác yêu cầu của B khi cho rằng, tòa án Anh được cho là hợp lý và công bằng nhất để giải quyết tranh chấp này. Tuy nhiên, với quy định trên, khi B yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành phán quyết của tòa án Anh tại Việt Nam thì chắc chắn phán quyết đó sẽ không được công nhận và cho thi hành vì nó thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam.

Do đó, chúng tôi cho rằng, cần phải sửa đổi khoản 1(c) Điều 470 BLTTDS năm 2015 quy định về tính ưu tiên cho thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo sự thỏa thuận lựa chọn tòa án hợp pháp của các bên trong tranh chấp hơn là quy định để xác lập thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam. Việc sửa đổi này sẽ phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 161 Luật BVMT năm 2014, theo đó nhấn mạnh rằng tranh chấp môi trường trên lãnh thổ Việt Nam phải do Tòa án Việt Nam giải quyết.

Tìm hiểu kinh nghiệm của các nước, có thể thấy pháp luật các nước thường quy định căn cứ xác định thẩm quyền đối với các tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài trong lĩnh vực môi trường dựa trên hai nguyên tắc: Nguyên tắc chung cho việc xác định thẩm quyền tố tụng (dân sự, thương mại) quốc tế của tòa án quốc gia và nguyên tắc mang tính ngoại lệ cho việc xác định thẩm quyền đối với tranh chấp đặc thù trong lĩnh vực môi trường. Theo đó, nguyên đơn được toàn quyền quyết định trong việc tiến hành khởi kiện theo một trong hai căn cứ trên dựa trên sự phân tích những lợi ích tối đa mà nguyên đơn có thể nhận được.

Theo pháp luật EU, nguyên tắc chung cho việc xác định thẩm quyền được quy định tại Điều 4 Nghị định Brussels I Recast, dựa trên nơi cư trú nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu bị đơn là tổ chức. Ngoại lệ cho nguyên tắc chung trong việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định này, theo đó, các tranh chấp này sẽ được giải quyết bởi tòa án nơi có hoặc có thể có sự kiện gây thiệt hại. Theo giải thích của tòa án Công lý châu Âu (European Court of Justice – ECJ), nơi này có thể bao gồm nơi hành vi gây thiệt hại được thực hiện hoặc nơi thiệt hại xảy ra hoặc có thể xảy ra. Việc khởi kiện theo nguyên tắc chung tại Điều 4 hay ngoại lệ theo Điều 7 của Nghị định là quyền của nguyên đơn dựa trên sự cân nhắc đến tính thuận tiện và những lợi ích mà nguyên đơn cho rằng mình có thể đạt được một cách tối ưu nhất. Cách quy định tương tự như EU về xác định thẩm quyền của tòa án trong giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài cũng được tìm thấy trong pháp luật của đa số các quốc gia thành viên EU, điển hình như Đức, Pháp, Bỉ…

Đối với các quốc gia theo thông luật như Hoa Kỳ, hầu như không tồn tại những đạo luật riêng điều chỉnh về vấn đề này, cũng như không áp dụng theo hướng xây dựng nguyên tắc chung và ngoại lệ cho việc xác định thẩm quyền hay luật áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại có yếu tố nước ngoài. Theo đó, việc giải quyết vấn đề thẩm quyền hay luật áp dụng sẽ dựa trên các nguyên tắc mang tính tiền lệ được hình thành từ các án lệ trước đó hoặc các học thuyết được ra đời từ sự đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của các nhà nghiên cứu. Việc xác định thẩm quyền của tòa án Hoa Kỳ đối với các tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài dựa trên nguyên tắc in personam jurisdiction (tạm dịch là thẩm quyền dựa trên mối liên hệ cá nhân) cũng như dựa trên học thuyết forum non conveniens để xác định tính thuận tiện cho việc xét xử của tòa án khi giải quyết tranh chấp. Pháp luật Trung Quốc không có quy định riêng cho việc giải quyết vấn đề xác định thẩm quyền lẫn luật áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài mà vấn đề này sẽ được giải quyết tương tự như các tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài khác. Điều 28 Luật TTDS năm 2012 quy định tòa án Trung Quốc có thẩm quyền đối với các tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dựa trên căn cứ về nơi có hành vi vi phạm hoặc nơi cư trú của bị đơn theo quy định tại Điều 21. Như vậy, tương tự như cách giải quyết của EU, Trung Quốc cho phép nguyên đơn tiến hành lựa chọn khởi kiện tại tòa án nơi có thẩm quyền theo căn cứ của nguyên tắc chung (nơi cư trú của bị đơn) hoặc tòa án có thẩm quyền theo căn cứ mang tính ngoại lệ dựa trên sự cân nhắc về những lợi ích mà mình có thể nhận được nhiều nhất.

Vấn đề giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại về môi trường có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam là vấn đề không đơn giản. Các quy định về xác định thẩm quyền của tòa án và luật áp dụng vẫn còn bất cập, không thật sự phù hợp với thực tế của loại hình tranh chấp này, đặc biệt là vấn đề luật áp dụng cho việc giải quyết quyền và nghĩa vụ của các bên. Điều này xuất phát từ tính chất phức tạp, quy mô và mối liên hệ gắn kết giữa tranh chấp với hơn hai hoặc nhiều quốc gia khác nhau. Do đó, việc nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật của EU, Hoa Kỳ và Trung Quốc đóng vai trò quan trọng vì cung cấp một cách tiếp cận khách quan trong việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập