Trong hợp đồng cũng ghi rõ hai bên sẽ thực hiện hợp đồng khi A xin được giấy phép nhập khẩu trong vòng 2 tháng kể từ ngày ký kết hợp đồng. đến ngày 20/8/2008 A nhận được thông báo của B rằng sẽ giao hàng cho người chuyên chở vào ngày 1/9/2008 và hàng sẽ đến cảng hải phòng vào ngày 25/9/2008. Tuy nhiên do A không xin được giấy phép nên A đã thông báo cho B rằng A sẽ không mua hàng của B nữa nhưng B không đồng ý với thông báo này và đã giao hàng. Khi hàng đến Việt Nam bên A đã từ chối nhận hàng và không thanh toán.

1) Hỏi bên B có vi phạm hợp đồng không nếu áp dụng công ước viên 1980.

2) Bên B đã kiện A ra tòa kinh tế nhân dân Hà Nội nơi B có trụ sở hỏi tòa án này có thẩm quyền giải quyết không, biết rằng khi xảy ra tranh chấp bên A đã thông báo cho B rằng sẽ kiện B ra tòa trọng tài thương mại quốc tế ICC.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật dân sựcủa công ty luật Minh Khuê.

Tranh chấp hợp đồng thương mại?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162 

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

>> Xem thêm:  Mẫu Hợp đồng kinh tế cập nhật mới nhất năm 2020

Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG)

Luật Trọng tài thương mại của Quốc hội, số 54/2010/QH12

Bộ Luật Tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 sửa đổi của Quốc hội

Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế

Nội dung tư vấn:

1) Bên B có vi phạm hợp đồng không nếu áp dụng công ước viên 1980.

Theo điều 25, điều 33 Công ước Viên 1980:

"Ðiều 25:

Một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu qủa đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự."

Nếu xét về bên vi phạm trong hợp đồng này thì bên A là bên người mua vi phạm hợp đồng vì đã hết thời hạn 2 tháng là ngày 5/8/2008 mà A không thông báo cho bên B về việc có xin được giấy phép nhập khẩu hay không. Theo khoản 1 điều 61 Công ước Viên năm 1980:

"1. Nếu người mua không thực hiện một nghĩa vụ nào đó theo hợp đồng mua bán hay bản Công ước này, thì người bán có thể:

a. Thực hiện các quyền quy định tại các điều 62 và 65.

b. Ðòi bồi thường thiệt hại như quy định tại các điều từ 74 đến 77."

Mà theo điều 62 Công ước Viên năm 1980:

"Người bán có thể yêu cầu người mua trả tiền, nhận hàng hay thực hiện các nghĩa vụ khác của người mua, trừ phi họ sử dụng một biện pháp bảo hộ pháp lý khác không thích hợp với các yêu cầu đó. "

Như vậy, khi bên A vi phạm vì không thông báo về việc không xin được giấy phép nhập khẩu thì bên B có quyền yêu cầu bên A nhận hàng.

Theo Ðiều 49 Công ước Viên năm 1980:

"1. Người mua có thể tuyên bố hủy hợp đồng:

a. Nếu việc người bán không thực hiện một nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ hợp đồng hay từ Công ước này cấu thành một vi phạm chủ yếu đến hợp đồng, hoặc:

b. Trong trường hợp không giao hàng: Nếu người bán không giao hàng trong thời gian đã được người mua gia hạn thêm cho họ chiếu theo khoản 1 điều 47 hoặc nếu người bán tuyên bố sẽ không giao hàng trong thời gian được gia hạn này.

2. Tuy nhiên trong trường hợp nếu người bán đã giao hàng thì người mua sẽ mất quyền hủy hợp đồng nếu người mua đã không tuyên bố hủy hợp đồng.

a. Khi người mua giao hàng chậm trong một thời hạn hợp lý kể từ lúc người mua đã biết rằng việc giao hàng đã được thực hiện .

b. Ðối với mọi trường hợp vi phạm trừ trường hợp giao hàng chậm trễ, trong một thời hạn hợp lý:

Kể từ lúc người mua đã biết hay đáng lẽ phải biết về sự vi phạm đó.

Sau khi đã hết mọi thời hạn mà người mua đã gia hạn thêm cho người bán chiếu theo khoản 1 điều 47 hoặc sau khi người bán đã tuyên bố rằng, họ sẽ không thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn đã được gia hạn thêm đó, hoặc:

Sau khi đã hết mọi thời hạn bổ sung mà người bán đã yêu cầu chiếu theo khoản 2 điều 48 hay sau khi người mua đã tuyên bố là họ không chấp nhận cho người bán thực hiện nghĩa vụ."

Tuy nhiên, A đã thông báo sẽ không mua hàng của B nữa có nghĩa là A đã hủy bỏ hợp đồng, mà việc hủy hợp đồng này lại không thuộc khoản 1 Ðiều 49 Công ước Viên năm 1980, B cũng không đồng ý về việc này nên hợp đồng vẫn chưa chấm dứt vì A không có quyền hủy hợp đồng trong trường hợp này.

2) Về tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp:

Theo quy định tại điều 6 Luật trọng tài thương mại:

"Điều 6. Toà án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài

Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được."

Cũng theo khoản 3 điều 1 Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế năm 1985:

"3. Trọng tài là quốc tế nếu:

(a) Các bên tham gia thoả thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết thoả thuận trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau; hoặc:

(b) Một trong những địa điểm mà các bên có trụ sở kinh doanh sau đây được đặt ở ngoài quốc gia:

(i) Nơi tiến hành trọng tài nếu được xác định trong hoặc theo thoả thuận trọng tài;

(ii) Nơi mà phần chủ yếu của các nghĩa vụ trong quan hệ thương mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có quan hệ mật thiết nhất;

(c) Các bên đã thoả thuận rõ rằng vấn đề chủ yếu của thoả thuận trọng tài liên quan đến nhiều nước.

Do bên A chỉ thông báo cho B rằng sẽ kiện B ra tòa trọng tài thương mại quốc tế ICC chứ không phải hai bên đã thỏa thuận về việc sẽ giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại nên B có quyền kiện A ra tòa kinh tế nhân dân Hà Nội nơi B có trụ sở. Theo khoản 1, 2 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự:

"1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;"

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp l luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật kinh doanh, giải quyết tranh chấp tại Tòa Án

>> Xem thêm:  Mẫu đơn khởi kiện cập nhật mới nhất năm 2020 và hướng dẫn cách viết đơn khởi kiện