- Những người có tên trong hộ khẩu có liên quan gì đến việc sở hữu ngôi nhà không?

- Những người trong hộ khẩu muốn tranh chấp và kiện ra tòa thì họ có quyền đó không?

- Căn nhà của bà ngoại, nhưng ngoại chưa mất thì khi bán đi có bắt buộc phải chia đều cho các con hay không? hoặc ngoại được quyền cho ai thì cho?

- Khi ngoại mất đi thì việc chia tài sản có cần tiến hành không? hay chỉ cần làm theo di chúc của ngoại?

Dạ em xin cảm ơn luật sư và mong được phản hồi sớm ạ.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

 

Trả lời:

>> Xem thêm:  Mẫu văn bản từ chối nhận di sản thừa kế mới nhất năm 2020

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Bộ luật tố tụng dân sự 2015

II. Nội dung tư vấn:

Điều 465 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Điều 465. Hợp đồng tặng cho tài sản

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận."

"Điều 467. Tặng cho bất động sản   

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản."

Theo quy định, hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận của các bên, bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu. Như vậy, việc tặng cho nhà ở giữa bà ngoại bạn và mẹ bạn; giữa mẹ bạn và chị em bạn phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực và phải đăng ký quyền sở hữu thì mới được coi là hợp pháp. 

Sau khi bà ngoại bạn thực hiện thủ tục tặng cho căn nhà do bà đứng tên cho mẹ bạn, thì căn nhà sẽ thuộc sở hữu của mẹ bạn. Sau một thời gian thì mẹ bạn tặng lại cho bạn và chị bạn, 2 người cùng đứng tên căn nhà đó. Theo đó, căn nhà sẽ thuộc quyền sở hữu của chị, em bạn.

Do căn nhà lúc này hai chị em bạn đứng tên, nó thuộc quyền sở hữu của chị, em bạn. Nên quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt căn nhà đó sẽ thuộc về chị em bạn. Như vậy, việc bán căn nhà đó sẽ do chị em bạn quyết định. Và trường hợp này những người có tên trong hộ khẩu sẽ không có quyền sở hữu đối với căn nhà, do căn nhà này 2 chị em bạn đứng tên.

>> Xem thêm:  Cần tư vấn luật cư trú, đăng ký thường trú tại Hà Nội ?

Trong trường hợp những người có tên trong hộ khẩu cho rằng việc bán căn nhà ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ có quyền khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

"Điều 186. Quyền khởi kiện vụ án

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình."

Về vấn đề chia tài sản của bà ngoại bạn sau khi mất được thực hiện như sau:

- Trường hợp bà bạn mất mà có để lại di chúc thì việc chia di sản sẽ thực hiện theo di chúc, với điều kiện là di chúc của bà bạn phải hợp pháp. Quyền của bà bạn khi lập di chúc được quy định theo Điều 648 Bộ luật dân sự 2005 như sau:

"Điều 648. Quyền của người lập di chúc  

Người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản."

- Trường hợp bà bạn mất mà không để lại di chúc, thì trường hợp này sẽ chia di sản thừa kế theo pháp luật. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 như sau:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật  

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Dân sự.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại