- 1. Khái quát chung
- 2. Khái niệm tranh chấp trên cơ sở hợp đồng đầu tư quốc tế
- 3. Tranh chấp liên quan đến tài sản
- 4. Tranh chấp phát sinh do sự can thiệp vào quyền hợp đồng
- 5. Tranh chấp phát sinh do thay đổi hoàn cảnh
- 6. Tranh chấp hợp đồng đầu tư quốc tế có liên quan đến tham nhũng
- 7. Tranh chấp phát sinh do tắc động đến môi trường
- 8. Tranh chấp liên quan đến vi phạm nhân quyền
Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, tranh chấp trên cơ sở hợp đồng đầu tư quốc tế là gì? Và có những loại tranh chấp trên cơ sở hợp đồng đầu tư quốc tế?
Cảm ơn!
Trả lời:
1. Khái quát chung
Trong khoa học pháp lý có khá nhiều cách hiểu về đầu tư nước ngoài, tùy thuộc vào khía cạnh nhìn nhận khác nhau của quá trình này và chúng được thể hiện ở cả pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia.
Theo nội luật của nhiều quốc gia, khái niệm đầu tư nước ngoài hoặc được định nghĩa rõ ràng hoặc gộp với định nghĩa về đầu tư nói chung (bao gồm cả đầu tư trong nước và đầu tư nựớc ngoài).
Theo Luật Đầu tư năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2015 theo Luật Khí tượng thủy văn; năm 2016 theo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có đỉều kiện của Luật Đầu tư; năm 2017 theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; năm 2018 theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật có hên quan đến quy hoạch; năm 2019 theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật sở hữu trí tuệ thì không có định nghĩa riêng về đầu tư nưổc ngoài mà gộp chung vào định nghĩa “đầu tư kinh doanh”.
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “đầu tư nước ngoài” được ghi nhận trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam của năm 1987, sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992. Mặc dù có khác biệt về nội hàm, khái niệm này tiếp tục được ghi nhận trong luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 2000 và Luật Đầu tư năm 2005.
Cùng với xu hướng tự do hóa thương mại, đầu tư của các quốc gia trên thế giới hiện nay, hoạt động đầu tư quốc tế tại các quốc gia cũng không ngừng phát triển. Theo Báo cáo đầu tư thế giới năm 2016, luồng FDI toàn cầu đang có sự tăng trưởng đáng kể và dự kiến sẽ vượt qua con sô' 1,8 nghìn tỷ USD vào năm 2018, trong đó, các nước châu Á dự kiến thu hút thêm 16% dòng vốn FDI, tương đương vối 541 tỷ USD, tập trung chủ yếu vào Đông và Nam Á (Theo UNCTAD: World Investment Report 2016, http://unctad.org/en/ PublicationsLibrary/wir2016_en.pdf, truy cập ngày 26/6/2018).
Ngoài ra, dòng vốn FDI vào các nước thuộc nhóm G20 cũng gia tăng 57% so với cùng kỳ năm 2015. Theo xu thế này, các hợp đồng đầu tư quốc tế cũng được ký kết ngày càng nhiều. Việc ký kết loại hợp đồng này không chỉ nhằm mục đích bảo đảm cho các chủ thể thực hiện hoạt động đầu tư một cách hiệu quả, mà đồng thời còn là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng. Trên thực tế, đã có không ít những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đầu tư quốc tế liên quan đến các điều khoản quan trọng trong hợp đồng, do vậy, việc tìm hiểu về hợp đồng đầu tư quốc tế và giải quyết tranh chấp phát sinh trên cơ sở hợp đồng đầu tư quốc tế là vô cùng quan trọng.
2. Khái niệm tranh chấp trên cơ sở hợp đồng đầu tư quốc tế
Tranh chấp trên cơ sở hợp đồng đầu tư quốc tế là các tranh chấp xuất phát từ việc một bên vi phạm các điều khoản trong hợp đồng giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước hay cơ quan nhà nước cụ thể của quốc gia nhận đầu tư, khác với tranh chấp đầu tư trên cơ sở điều ước quốc tế, các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đầu tư quốc tế rộng hơn, bao gồm cả tranh chấp giữa cơ quan nhà nước cụ thể với nhà đầu tư nước ngoài và tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước sở tại.
Các tranh chấp giữa cơ quan nhà nước cụ thể của quốc gia nhận đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài theo hợp đồng đầu tư quốc tế được khởi kiện nhà nước theo cơ chế ISDS khi điều này được ghi nhận tại điều ước quốc tế liên quan hoặc là nguồn gốc dẫn tới việc nhà nước nhận đầu tư vi phạm các nguyên tắc bảo hộ đầu tư đã được thỏa thuận trong IIA liên quan. Ví dụ: đã được cơ quan hành chính, tòa án trong nước giải quyết nhưng nhà đầu tư nước ngoài cho rằng không thỏa đáng và vi phạm quyền tiếp cận công lý của họ).
Trong tranh chấp phát sinh trên cơ sở điều ước quốc tế về đầu tư nước ngoài, các tòa sẽ xem xét liệu nhà nước nhận đầu tư có vi phạm các cam kết trong điều ước quốc tế về đầu tư thông qua việc ban hành luật, quy định, thực hiện các biện pháp hành chính hoặc các biện pháp khác có thể tác động tới hợp đồng đầu tư (theo Siemens V. Argentina, ICSID Case No.ARB/02/8, Award, 6 February 2007, p. 204.)
Trong khi đó, phạm vi và mức độ các nghĩa vụ hợp đồng của chính phủ, cơ quan nhà nước của quốc gia nhận đầu tư được quy định trong hợp đồng đầu tư quốc tế1; mặc dù vậy, như trên đã nêu, sự vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng đầu tư quốc tế cũng có thể là nguồn gốc phát sinh tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước sở tại.
Nhà nước (chính phủ) nước nhận đầu tư có thể vi phạm một điều ưóc quốc tế về đầu tư mà không vi phạm một hợp đồng đầu tư và ngược lại. Tuy nhiên, một vi phạm đối với nghĩa vụ thực chất trong điều ước quốc tế về đầu tư có thể bắt nguồn từ việc vi phạm hợp đồng đầu tư quốc tế, nhưng vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đầu tư quốc tế không dẫn tối vi phạm nghĩa vụ trong điều ước quốc tế về đầu tư.
Vụ CMS kiện Áchentina, tòa cho rằng Chính phủ Áchentina đã vi phạm các nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ hợp đồng vì đã không thể bảo vệ và tạo cho nhà đầu tư nước ngoài môi trường kinh doanh ổn định và có thể dự đoán được trên lãnh thổ của mình. Đối xử công bằng và thỏa đáng là rất cần thiết để tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định và hợp pháp. Điều này bảo đảm an toàn cho khoản đầu tư nước ngoài. Tuy vậy, nếu các biện pháp mà nước nhận đầu tư thực hiện làm thay đổi hoàn toàn môi trường pháp lý và kinh doanh trong nước đối với nhà đầu tư nước ngoài thì sẽ dẫn tới việc vi phạm nghĩa vụ đối xử công bằng và thỏa đáng.
Dưới đây là một số loại tranh chấp trên cơ sở hợp đồng đầu tư quốc tế như sau:
3. Tranh chấp liên quan đến tài sản
Sự thay đổi chế độ chính trị thường dẫn đến việc quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư nước ngoài. Nguyên nhân của sự thay đổi chế độ chính trị có thể do các cuộc cách mạng hoặc thông qua quá trình dân chủ hóa.
Ví dụ: Chuyển từ chế độ quân sự sang một chính quyền dân sự. Khi chính phủ quốc hữu hóa hay tịch thu tài sản bằng biện pháp hành chính trong khi thực hiện các cam kết cải cách kinh tế thì trong nhiều trường hợp, việc tước quyền sở hữu này được coi là hợp pháp. Tuy nhiên, các tranh chấp phát sinh chủ yếu liên quan tới mức bồi thường cho tài sản bị tước đoạt.
4. Tranh chấp phát sinh do sự can thiệp vào quyền hợp đồng
Với tranh chấp này, quyền của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng được bảo vệ bằng pháp luật quốc tế và sự can thiệp của chính phủ vào các quyền hợp đồng này dẫn đến việc nhà đầu tư kiện đòi bồi thường. Mọi quy định về chủ quyền vĩnh viễn của nước nhận đầu tư đối với tài nguyên thiên nhiên phản ánh sự căng thẳng giữa các lợi ích độc quyền về đất đai và sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng.
5. Tranh chấp phát sinh do thay đổi hoàn cảnh
Hợp đồng đầu tư quốc tế thường là dài hạn, trong đó bốì cảnh của các hoạt động đầu tư luôn thay đổi. Các thay đổi mà không ảnh hưỏng đến bất kỳ mức độ vật chất nào sẽ được các bên bỏ qua. Nhưng trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài không thể thực hiện hợp đồng do không có kỹ năng, hay hợp đồng cho lợi nhuận lốn hơn dự kiến do năng lực tốt của nhà đầu tư thì chính phủ có thể sẽ can thiệp vào hợp đồng.
6. Tranh chấp hợp đồng đầu tư quốc tế có liên quan đến tham nhũng
Trong thực tiễn, một nguyên nhân quan trọng của tranh chấp xuất phát từ nội bộ chính trị của nước nhận đầu tư.
Ví dụ: Chính phủ mới lên nắm quyền và đang xem xét lại một cách khách quan các hành vi đã thực hiện của chính phủ tiền nhiệm. Việc đó làm sáng tỏ thực tế rằng các hợp đồng đầu tư quốc tế trước đây đã không được ký kết theo đúng thủ tục được pháp luật quy định, mà do nhà đầu tư đã hối lộ các thành viên, nhân viên của chính phủ tiền nhiệm, về mặt kinh tế, đây là tranh chấp quan trọng nhất vì nó thường liên quan đến các dự án cơ sỗ hạ tầng, có thể có giá trị đến hàng tỷ đô la Mỹ.
Hầu hết, các tranh chấp này xuất phát từ những dự án cơ sở hạ tầng như nhà máy năng lượng, hệ thống viễn thông, xây dựng cơ sở huấn luyện quân sự và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Tham nhũng xảy ra trên khắp thế giới, dòng chảy của vốn đầu tư không chỉ hướng tới các quốc gia đang phát triển mà còn giữa các nước phát triển. Tham nhũng liên quan đến đầu tư xuất hiện nhiều nhất ở Nam Á và Trung Đông.
7. Tranh chấp phát sinh do tắc động đến môi trường
Trong đầu tư quốc tế, hoạt động kinh doanh tác động xấu đến môi trường có thể dẫn đến việc chấm dứt một hoạt đầu tư quốc tế hoàn toàn hoặc áp đặt các hạn chế đối với hoạt động đầu tư, do đó có thể phát sinh tranh chấp. Những sự can thiệp như vậy được hỗ trợ bởi cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về môi trường. Ví dụ: Khi hoạt động khai thác dầu mỏ của các nhà đầu tư được cho là gây ảnh hưỏng không tốt đến môi trường, nhà khai thác không chỉ vi phạm luật trong nước mà còn vi phạm các tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ môi trường. Trong những trường hợp như vậy, nước nhận đầu tư sẽ có lý do để can thiệp vào hoạt động đầu tư quốc tế và yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài bồi thường cho những thiệt hại mà họ gây ra.
8. Tranh chấp liên quan đến vi phạm nhân quyền
Tranh chấp này phát sinh từ các cáo buộc nhà đầu tư nước ngoài đã vi phạm nhân quyền của người dân nước nhận đầu tư. Trong tranh chấp này, nhà đầu tư nước ngoài là bị đơn, có khả năng bị kiện ở các tòa án của chính quốc gia mà nhà đầu tư có quốc tịch.
Họ sẽ phải đối mặt vối hàng loạt nguyên đơn được đại diện bởi các tổ chức phi chính phủ sẵn sàng ủng hộ các cáo buộc của các nạn nhân, ví dụ: Trường hợp quyền của các thổ dân bị vi phạm do việc khai thác tài nguyên trên vùng đất truyền thông của họ; các cáo buộc rằng việc khai thác ảnh hưởng đến quyền tự quyết, phá hủy nền văn hóa truyền thống và dẫn đến suy thoái môi trường đã được đưa ra trưốc tòa án quốc gia cũng như trước các cơ quan tài phán quốc tế về nhân quyền.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).