1. Khái niệm tranh luận tại phiên tòa dân sự

Tranh luận tại phiên tòa dân sự là hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng tại phiên toà dân sự trong việc trao đổi, bàn cãi các ý kiến về vụ án dân sự.

Tranh luận tại phiên toà dân sự thể hiện tính dân chủ của tố tụng dân sự, có tác dụng làm rõ các tỉnh tiết của vụ án dân sự, bảo đảm việc giải quyết vụ án dân sự đúng đắn. Pháp luật tố tụng dân sự quy định tranh luận tại phiên toà được tiến hành ở phiên toà dân sự sơ thẩm, phúc thẩm và sau thủ tục hỏi tại phiên toà.

Trong thủ tục tranh luận tại phiên toà, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự hoặc người đại diện của đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức khởi kiện phát biểu ý kiến về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm về việc giải quyết vụ án dân sự. Khi phát biểu, người tham gia tranh luận phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên toà cũng như kết quả của việc hỏi tại phiên toà. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác.

Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án. Qua tranh luận, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc xem xét chưa được đầy đủ hoặc cần phải xem xét thêm chứng cứ thì hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi, sau khi hỏi xong phải tiếp tục tranh luận.

2. Quyền tranh luận theo Luật Tố tụng dân sự

Theo quy định tại khoản 20, Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2019 đương sự có quyền tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng.

Như vậy, tranh luận được hiểu là bàn cãi tìm ra lý lẽ; là một phần tố tụng của phiên tòa, được tiến hành sau khi kết thúc phần xét hỏi. Thường thì chúng ta hay nhắc đến tranh tụng, bởi tranh tụng là tranh luận trong tố tụng. Tranh luận bao hàm cả hoạt động tranh tụng trước khi mở phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa và tranh tụng sau khi có quyết định giải quyết vụ án dân sự.

3. Nguyên tắc đảm bảo quyền tranh luận trong tố tụng dân sự

Tại Điều 24 Bộ luật này quy định quyền bảo đảm tranh tụng trong xét xử:

- Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2019;

- Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này;

- Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này. Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định.

4. Trình tự phát biểu khi tranh luận tại phiên tòa dân sự

Trong quá trình xét xử vụ án dân sự, việc phát biểu của những người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng khi tranh luận trong phần tranh tụng tại phiên tòa phải tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2019

Bắt đầu tranh luận

Phát biểu tranh luận tại phiên tòa dân sự được quy định tại Điều 260 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2019:

Sau khi kết thúc về việc xét hỏi, Hội đồng xét xử chuyển sang phần tranh luận tại phiên tòa. Trình tự được thực hiện như sau:

  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày. Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến. Trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện thì người đại diện trình bày ý kiến. Người có quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ có quyền bổ sung ý kiến;
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận, đối đáp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến;
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến;
  • Các đương sự đối đáp theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa;
  • Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu các đương sự tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án.
  • Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì họ tự mình trình bày khi tranh luận;
  • Trường hợp vắng mặt một trong các đương sự và người tham gia tố tụng khác thì chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của họ để trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tòa tranh luận và đối đáp.

Phát biểu khi tranh luận

Khi tiến hành phát biểu về việc đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về giải quyết vụ án, những người tham gia tranh luận phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại phiên tòa. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác.

Phát biểu của Kiểm sát viên

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Kết thúc tranh luận

Nếu xét thấy không có tình tiết nào của vụ án chưa được xem xét, việc xem xét đã đầy đủ hoặc không cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử kết thúc phần tranh luận và đi vào phòng nghị án để nghị án.

5. Một số định hướng xây dựng các quy định của pháp luật bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự

Theo quy định tại Điều 103 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, thì “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Mặc dù Hiến pháp quy định là “tranh tụng trong xét xử” nhưng chúng tôi cho rằng, việc thể chế nguyên tắc tranh tụng trong xét xử phải theo hướng giới hạn của việc tranh tụng trong tố tụng dân sự theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nghĩa là những người có quyền tranh tụng phải được đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết tranh chấp dân sự trước, trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án và cả trong giai đoạn thi hành án dân sự. Để khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên và thể chế nguyên tắc tranh tụng trong xét xử vụ án dân sự, chúng tôi đề nghị:

- Thứ nhất, ghi nhận “tranh tụng là một trong những nguyên tắc của tố tụng dân sự”. Giới hạn của việc tranh tụng được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Cần quy định Tòa án ghi nhận và quyết định thi hành kết quả hòa giải ở cơ sở do Ban tư pháp hoặc các đoàn thể chính trị cấp xã thực hiện đối với những tranh chấp dân sự để giảm số lượng vụ kiện dân sự mà Tòa án phải giải quyết.

- Thứ hai, chỉ có các bên đương sự mới có quyền tranh luận. Viện kiểm sát chỉ có quyền tranh luận khi được pháp luật quy định quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích công hoặc bảo vệ lợi ích cho nhóm người yếu thế trong xã hội.

- Thứ ba, Tòa án tiến hành tố tụng với tư cách trung gian và đưa ra các phán quyết và có nhiệm vụ hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ như quy định tại Điều 85 BLTTDS. Ngoài việc thông báo những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết sau khi thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo cho đương sự về: những chứng cứ mà đương sự cung cấp cho bên đương sự còn lại; những chứng cứ mà Tòa án thu thập được. Bởi lẽ, chỉ khi có đủ chứng cứ (thông tin) thì đương sự mới so sánh thiệt hơn trong việc theo đuổi vụ kiện và quyết định việc chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ kiện.

- Thứ tư, tăng cường công tác hòa giải trước khi xét xử theo hướng Tòa án mở nhiều phiên họp kiểu như điều trần trước khi mở phiên tòa để Tòa án thông báo về: những chứng cứ mà đương sự cung cấp cho bên đương sự còn lại; những chứng cứ mà Tòa án thu thập được cho các đương sự. Đồng thời, cho phép các bên đương sự đánh giá các chứng cứ đó cũng như thể hiện quan điểm về việc giải quyết từng vấn đề hoặc cả vụ án khi đã có đầy đủ chứng cứ. Nếu làm được như vậy, thì phiên tòa chỉ giải quyết những vấn đề mà các bên chưa thống nhất và ghi nhận sự thỏa thuận (cách giải quyết) những vấn đề đã được giải quyết trước khi mở phiên tòa.

- Thứ năm, hoạt động tranh tụng tại phiên tòa có thể diễn ra đồng thời với việc xét hỏi. Nghĩa là khi xét hỏi từng vấn đề, Tòa án có thể cho các bên đương sự phát biểu quan điểm về việc giải quyết vấn đề đó mà không phải đợi đến khi tranh luận mới nêu quan điểm. Khi các bên đương sự thống nhất được cách giải quyết vấn đề nào thì ghi nhận ngay sự thỏa thuận đó.

- Thứ sáu, nghiên cứu vấn đề có nên tiếp tục duy trì nguyên tắc “xét xử liên tục” hay có thể tạm dừng (không phải là hoãn phiên tòa) một hoặc nhiều lần để các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Sửa đổi quy định về thủ tục phiên tòa theo hướng cho các bên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án (tranh luận) trước khi xét hỏi. Nếu tổ chức phiên tòa theo phương án này, thì xem xét và quy định lại vai trò của Hội đồng xét xử cũng như trình tự phiên tòa cho phù hợp.

- Thứ bảy, một vấn đề liên quan đến nguyên tắc tranh tụng là thời điểm đưa ra chứng cứ. Có quan điểm cho rằng, phải quy định thời hạn chót của việc cung cấp chứng cứ. Chúng tôi cho rằng, không nên khống chế thời hạn chót của việc đương sự cung cấp chứng cứ. Bởi lẽ, trong thực tế tuy có trường hợp đương sự dấu chứng cứ và chỉ đưa ra tại phiên tòa nhưng không phải đương sự nào cũng thu thập được chứng cứ và nộp cho Tòa án trước ngày mở phiên tòa. Có những chứng cứ nằm ở các cơ quan, tổ chức mà đương sự biết nhưng không thể tiếp cận được cho nên pháp luật mới quy định đương sự có quyền “Đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá”. Mặt khác, với chức năng nhiệm vụ của Tòa án là bảo vệ công lý thì khi giải quyết, xét xử vụ án dân sự, Tòa án phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do vậy, phải tăng cường công tác giải quyết kiến nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng dân sự đồng thời có cơ chế hữu hiệu để hạn chế việc khiếu nại “cầu may”.

- Thứ tám, tăng cường công tác đào tạo nguồn luật sư để tăng số lượng luật sư đáp ứng nhu cầu giải quyết xét xử vụ án dân sự theo nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự. Mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự, nhất là ở những vùng sâu vùng xa, đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

- Thứ chín, quy định chế tài đủ mạnh để buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự theo yêu cầu của Tòa án (Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án).

- Thứ mười, bảo đảm cơ sở vật chất cho việc nâng cao chất lượng tranh tụng trong tố tụng nói chung và tố tụng dân sự nói riêng. Theo đó, các cơ quan tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện cho người dân nói chung và các đương sự trong các vụ án dân sự dễ dàng tiếp cận với công lý, nghĩa là cần công khai hóa các thủ tục tố tụng tư pháp tại các cơ quan tiến hành tố tụng để người dân tra cứu thông tin pháp luật, nội dung vụ kiện, chứng cứ mà Tòa án thu thập được một cách thuận lợi nhất bằng các phương tiện khoa học công nghệ.

.