1. Trợ cấp là gì?

Trợ cấp là một khoản thanh toán được thực hiện cho những người cần giúp đỡ để trang trải một số chi phí của họ. Những người này có thể là những người mất việc làm, hoặc những người làm công việc quan trọng cho cách mạng.

 

2. Các loại trợ cấp

Có một số người nhất định nhận được sự giúp đỡ từ chính phủ để chi trả cho những thứ như thực phẩm và nhà ở.

- Viên chức, người lao động, công chức được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội  tương ứng với khoảng thời gian tham gia bảo hiểm xã hội.

-  Thương binh liệt sĩ, người có công với cách mạng được hưởng trợ cấp hàng tháng theo chính sách của pháp luật đối với người có công với cách mạng.

- Đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật.

- Trợ cấp của Chính Phủ đối với doanh nghiệp.

 

3. Tính riêng biệt của trợ cấp

Các khoản trợ cấp có thể được coi là riêng biệt nếu chúng được trao cho các nhóm người, địa điểm hoặc doanh nghiệp khác nhau. Chúng cũng có thể được coi là riêng biệt nếu chúng được trao cho một số khu vực nhất định của đất nước hoặc nếu chúng được dùng để cố gắng ngăn các công ty nhận quá nhiều tiền từ chính phủ.

Tính riêng biệt của trợ cấp được xác định như sau:

- Có một số quy tắc áp dụng cho những tổ chức, cá nhân hoặc ngành nào đủ điều kiện nhận trợ cấp.

- Chính phủ đưa ra những tiêu chí cần đáp ứng để một người nào đó được nhận trợ cấp, nhưng đôi khi những tiêu chí này không phải lúc nào cũng được tuân thủ trong thực tế.

- Có những quy tắc mà các tổ chức và mọi người trong một khu vực nhất định phải tuân theo.

- Nếu trợ cấp không tách biệt theo các điểm liệt kê trong khoản này, cơ quan điều tra vẫn có thể xác định tính tách biệt dựa trên các yếu tố khác, như số lượng doanh nghiệp đủ điều kiện nhận trợ cấp, cách thức phân phối và cách thức cơ quan có thẩm quyền trợ cấp.

Trợ cấp dựa trên kết quả xuất khẩu của công ty hoặc trợ cấp nhằm giúp người dân sử dụng hàng sản xuất trong nước thay vì hàng nhập khẩu được coi là hai loại trợ cấp khác nhau. 

 

4. Cách xác định giá trợ cấp

Để khoản trợ cấp có giá trị, giá trị của khoản trợ cấp phải dựa trên những gì đã thực sự được trao cho tổ chức hoặc cá nhân thụ hưởng.

Trợ cấp dưới hình thức cho vay được tính toán dựa trên chênh lệch giữa lãi suất sẽ được tính cho một khoản vay trên thị trường và lãi suất mà mọi người thực sự phải trả.

Khi chính phủ hoặc một tổ chức công đảm bảo một khoản trợ cấp, họ sẽ ấn định giá trị của khoản trợ cấp dựa trên chênh lệch giữa lãi suất áp dụng nếu không có bảo lãnh và lãi suất thực tế.

Chính phủ hoặc tổ chức công cộng sẽ trợ cấp cho doanh nghiệp dưới dạng tiền hoặc cổ phiếu, và giá trị của khoản trợ cấp sẽ dựa trên số tiền hoặc cổ phần mà doanh nghiệp thực sự nhận được.

Nếu chính phủ hoặc tổ chức công mua hàng hóa hoặc dịch vụ với giá cao hơn giá thị trường, giá trị trợ cấp dựa trên chênh lệch giữa giá thị trường do chính phủ hoặc tổ chức công trả và giá thực trả.

Giá trị trợ cấp là chênh lệch giữa giá thị trường và giá thị trường, là giá mà các tổ chức và cá nhân sẽ phải trả nếu chính phủ hoặc tổ chức công bán hàng hóa và dịch vụ của mình theo giá thị trường.

Nếu khoản trợ cấp đến từ chính phủ hoặc tổ chức công và tổ chức hoặc cá nhân đó chưa nộp các khoản thuế mà họ phải nộp, thì khoản trợ cấp sẽ dựa trên số tiền mà tổ chức hoặc cá nhân đó đã nộp trừ đi số tiền lẽ ra họ phải nộp.

 

5. Ý nghĩa của hoạt động trợ cấp

Trợ cấp là một trợ giúp tài chính mà mọi người có thể sử dụng để giúp họ vượt qua thời điểm khó khăn và đứng vững trở lại. Điều này có nghĩa là chính phủ đang cung cấp hỗ trợ tài chính cho những người cần nó, giúp cuộc sống của họ dễ dàng hơn một chút.

Chính phủ đang cung cấp một khoản trợ cấp để những người có hoàn cảnh khó khăn có thể tiếp tục nhận được sự giúp đỡ. Điều này cho thấy sự quan tâm của chính phủ đối với các nhóm này và khả năng họ cùng nhau phát triển.

 

6. Sự khác nhau giữa trợ cấp và phụ cấp

Tiêu chí Trợ cấp Phụ cấp
Khái niệm Hiện nay chưa có văn bản nào quy định về trợ cấp. Điều này có nghĩa là khoản tiền người lao động được cấp khi rơi vào tình trạng không tạm thời ngừng lao động, trên cơ sở số tiền mà người lao động đã thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm trong thời gian lao động.

Phụ cấp lương theo thỏa thuận của hai bên NSDLĐ và NLĐ gồm:

- Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ;

- Các khoản phụ cấp lương gắn với quá trình làm việc và kết quả thực hiện công việc của người lao động.

(Theo Khoản 5, Điều 3, Thông tư 10/2020/TT-BLDTBXH)

Đối tượng chi trả Người sử dụng lao động, Cơ quan BHXH  Người sử dụng lao động
Các chế độ

Khoản trợ cấp do NSDLĐ chi trả:

-Trợ cấp thôi việc;

-Trợ cấp mất việc làm.

Khoản trợ cấp do cơ quan bảo hiểm chi trả:

- Trợ cấp ốm đau;

- Trợ cấp thai sản;

- Trợ cấp tai nạn lao động, nghề nghiệp;

- Trợ cấp hưu trí;
- Trợ cấp tử tuất. 

Một số chế độ phụ cấp lương:

Phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;

- Phụ cấp trách nhiệm

- Phụ cấp thu hút;

- Phụ cấp khu vực;

- Phụ cấp lưu động;

- Phụ cấp chức vụ.

Chế độ phụ cấp khác:

- Phụ cấp khuyến khích người lao động làm việc và phụ cấp khác theo yêu cầu của công ty.

Đặc điểm Cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ chi trả chế độ căn cứ vào số tiền đã đóng của từng trường hợp. 

Hầu hết các khoản phụ cấp đều được tính đóng góp bảo hiểm xã hội, trừ một số khoản phụ cấp đặc biệt không tính đóng bảo hiểm xã hội như dưới đây:

Tiền thưởng sáng kiến, tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền ăn giữ trẻ, nuôi con nhỏ, hỗ trợ người lao động có thân nhân bị chết, có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động,…

Đóng BHXH Các khoản phụ cấp mà bạn được hưởng không được tính vào tiền lương tháng khi đóng bảo hiểm xã hội. 

- Các khoản phụ cấp lương gắn với quá trình làm việc và kết quả công việc không đóng BHXH;

- Các khoản phụ cấp tính làm căn cứ xác định tiền lương tháng đóng BHXH như:

+ Phụ cấp chức vụ

+ Phụ cấp trách nhiệm

+ Phụ cấp thâm niên

+ Phụ cấp độc hại, nặng nhọc, nguy hiểm

 

7. Những trường hợp không được hưởng trợ cấp thôi việc

Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019 quy định như sau:
1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
Căn cứ vào quy định trên ta thấy rằng người lao động sẽ không được nhận trợ cấp thôi việc nếu thuộc các trường hợp sau:
1 - Chấm dứt hợp đồng lao động nhưng không thuộc một trong các trường hợp sau:
- Hết hạn hợp đồng lao động.
- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.
- Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.
- Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
- Người lao động chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.
- Người sử dụng lao động là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.
- Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.
- Người sử dụng lao động không phải là cá nhân bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật,
- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp.
- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp.
2 - Chưa làm việc thường xuyên đủ 12 tháng trở lên cho người sử dụng lao động.
3 - Người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định.
Theo Điều 54, Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 được sửa bởi điểm a khoản 1 Điều 219 BLLĐ năm 2019, người lao động được hưởng lương hưu khi đủ tuổi theo quy định và đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở trở lên. Với điều kiện lao động bình thường thì độ tuổi nghỉ hưu của lao động nữ tại năm 2021 là 55 tuổi 04 tháng, còn với lao động nam là 60 tuổi 03 tháng.
4 - Người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động do tự ý bỏ việc từ 05 ngày liên tục trở lên mà không có lý do chính đáng.
Theo điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, những trường hợp nghỉ  được coi là lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.
Nếu không thuộc các trường hợp nêu trên mà người lao động tự ý nghỉ việc quá 05 ngày liên tục thì người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động sẽ không được nhận trợ cấp thôi việc.
Vừa rồi Luật Minh Khuê đã trình bày nội dung về Trợ cấp là gì? Ví dụ các loại trợ cấp? So sánh trợ cấp và phụ cấp. Hy vọng đây sẽ là những thông tin hữu ích đối với quý bạn đọc.