1. Truy nã trong giai đoạn điều tra thì do cơ quan nào quyết định?

Căn cứ dựa theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC do Bộ Công an - Bộ Tư pháp - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao ban hành quy định như sau:

Xác định bị can bỏ trốn hoặc không biết nơi ở: Trong quá trình điều tra, nếu xác định rằng bị can đã bỏ trốn hoặc không biết nơi ở, Cơ quan điều tra thụ lý vụ án phải ra quyết định truy nã.

Phối hợp với cảnh sát truy nã tội phạm: Cơ quan điều tra cần phối hợp với lực lượng Cảnh sát truy nã tội phạm để tổ chức hoạt động truy bắt. Cơ quan điều tra cần cung cấp thông tin chi tiết và chính xác về đối tượng cần truy bắt, bao gồm tên, hình ảnh, đặc điểm nổi bật, địa chỉ trước đây, các tội danh liên quan, và bất kỳ thông tin nào có thể hỗ trợ quá trình truy bắt. Đảm bảo rằng lực lượng truy nã được trang bị đầy đủ và hiệu quả với phương tiện và công cụ cần thiết, bao gồm cả thông tin đối tượng trên các hệ thống máy tính, điện thoại di động, phương tiện giao thông, và các thiết bị khác.

Trường hơp tạm giữ hoặc tạm giam trốn: Nếu bị can đang bị tạm giữ hoặc tạm giam trốn nhà tạm giữ, Trưởng nhà tạm giữ báo cáo ngay với Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện. Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra chỉ đạo, tổ chức lực lượng truy bắt. Ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can về "Tội trốn khỏi nơi giam, giữ" theo quy định tại Điều 386 Bộ luật Hình sự 2015. Đồng thời ra quyết định truy nã bị can, ghi rõ các tội danh khác mà người đó đã bị khởi tố.

Trường hợp tạm giữ, tạm giam trốn trại tạm giam: Giám thị trại tạm giam phải tổ chức ngay lực lượng truy bắt. Thông báo ngay cho Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án để ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can về "Tội trốn khỏi nơi giam, giữ" theo quy định tại Điều 386 Bộ luật Hình sự 2015. Ra quyết định truy nã bị can, ghi rõ các tội danh khác mà người đó đã bị khởi tố.

Quy trình trên nhấn mạnh sự hợp tác giữa các cơ quan và lực lượng thực hiện để đảm bảo việc truy nã được thực hiện một cách hiệu quả trong quá trình điều tra tội phạm.

Theo đó thì khi có đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu mà trước đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà không bắt được thì Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định truy nã

Theo đó thì trường hợp chưa có lệnh bắt bị can; bị cáo để tạm giam thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra ngay quyết định truy nã.

 

2. Những quy định về nguyên tắc truy nã 

Căn cứ dựa theo Điều 3 Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC thì có quy định cụ thể về nguyên tắc truy nã. Cụ thể như sau:

Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC do Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Văn phòng Kiểm sát nhân dân Tối cao, và Tòa án nhân dân Tối cao ban hành ngày 14 tháng 12 năm 2012, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 2 năm 2013. Thông tư này quy định về nguyên tắc và thủ tục truy nã theo quy định của pháp luật.

Dưới đây là một số điểm quan trọng trong Điều 3 của Thông tư liên tịch 13/2012:

Việc truy nã phải nhanh chóng, kịp thời: Truy nã phải được thực hiện một cách nhanh chóng và kịp thời để đảm bảo tính hiệu quả của quá trình truy bắt

Phải đúng người, đúng hành vi phạm tội: Quá trình truy nã phải xác định đúng đối tượng cần bắt và đúng hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật.

Bảo đảm tôn trọng quyền tự do và dân chủ: Trong quá trình truy nã, cần bảo đảm tôn trọng quyền tự do và nguyên tắc dân chủ của công dân theo quy định của pháp luật.

Nghiêm cấm quyền quyết định truy nã tái với pháp luật và hướng dẫn của thông tư: Nghiêm cấm việc ra quyết định truy nã mà không tuân thủ quy định của pháp luật và hướng dẫn của Thông tư liên tịch này.

Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC nhấn mạnh về quy định và thực hiện quá trình truy nã một cách đúng đắn, tuân thủ pháp luật, và bảo đảm quyền lợi của người bị truy nã theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam.

 

3. Những quy định về ra quyết định truy nã

Căn cứ dựa theo quy định của Điều 4 Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC

Điều kiện ra quyết định truy nã

Có đủ căn cứ xác định đối tượng: Cơ quan có thẩm quyền chỉ được ra quyết định truy nã khi có đủ căn cứ xác định đối tượng theo quy định pháp luật. Đối tượng đã bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy bắt nhưng không có kết quả.

Xác định chính xác lý lịch và đặc điểm nhận diện: Đã xác định chính xác lý lịch và các đặc điểm nhận diện của đối tượng bỏ trốn. Xác định chính xác lý lịch và các đặc điểm nhận diện của đối tượng bỏ trốn là một bước quan trọng trong quá trình truy nã, đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của hoạt động này. 

Quy trình ra quyết định truy nã

Trường hợp có lệnh bắt mà không bắt được: Khi đã có đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và trước đó có lệnh bắt mà không bắt được, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể tự ra quyết định truy nã. Nếu chưa có lệnh bắt, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cũng có thể ra quyết định truy nã.Dựa trên các thông tin và căn cứ xác định, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể tự ra quyết định truy nã. Quyết định truy nã cần mô tả chi tiết về đối tượng, tội danh, và các thông tin nhận dạng quan trọng khác. Nếu chưa có lệnh bắt trước đó, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cũng có thể ra quyết định truy nã. Quyết định truy nã trong trường hợp này cũng cần mô tả chi tiết về đối tượng, tội danh, và các thông tin nhận dạng quan trọng. Sau khi ra quyết định truy nã, Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện các biện pháp truy bắt đối tượng theo quy định của pháp luật. Quy trình này nhấn mạnh tính cấp thiết và tính kịp thời trong việc truy nã đối tượng đã bỏ trốn, đồng thời đảm bảo rằng quy định pháp luật được tuân thủ đúng đắn. Quyết định truy nã là một biện pháp quan trọng để đưa đối tượng trở lại quyền lực pháp luật và tiến hành các bước tiếp theo trong quá trình xử lý hình sự.

Ra quyết định truy nã theo Viện Kiểm Sát, Tòa Án: Cơ quan điều tra có thể ra quyết định truy nã theo yêu cầu của Viện kiểm sát hoặc Tòa án.

Trường hợp chưa có lệnh bắt: Nếu chưa có lệnh bắt, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể tự ra ngay quyết định truy nã.

Quy trình này đảm bảo tính chính xác trong quá trình truy nã và tuân thủ đúng quy định của pháp luật, đồng thời giúp bảo vệ quyền lợi của người bị truy nã theo đúng quy định.

Quyết định truy nã phải có các nội dung chính sau đây:

- Ngày, tháng, năm, địa điểm ra quyết định truy nã cụ thể là ngày bao nhiêu

- Tên cơ quan; họ tên, chức vụ người ra quyết định truy nã

- Họ và tên khai sinh, tên gọi khác (nếu có), ngày, tháng, năm sinh, nơi đăng ký thường trú, nơi tạm trú hoặc nơi ở khác (nếu có) của đối tượng bị truy nã

- Đặc điểm nhận dạng và ảnh kèm theo. Đối với việc xác định đặc điểm nhận diện của đối tượng bỏ trốn, việc kèm theo hình ảnh là một phần quan trọng để tăng cường tính chính xác và hiệu quả của quá trình truy nã. Đối với việc bảo vệ quyền lợi của người bị truy nã, việc chính xác và minh bạch trong việc xác định đặc điểm nhận dạng là quan trọng. Cung cấp hình ảnh chất lượng cao là một phần quan trọng để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong quá trình truy nã.

-  Tội danh bị khởi tố, truy tố hoặc bị kết án, mức hình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với người bị truy nã. Xác định rõ tội danh mà người bị truy nã đã bị khởi tố hoặc truy tố. Cung cấp thông tin chi tiết về hành vi phạm tội để tạo nên căn cứ xác đáng cho quá trình truy nã. Cung cấp thông tin về mức hình phạt mà Tòa án đã tuyên cho người bị truy nã nếu đã bị kết án. Mức hình phạt có thể bao gồm tù chung thân, tù tuyển dụng, án treo, hay hình phạt khác tùy thuộc vào tình hình cụ thể của vụ án.

- Địa chỉ, số điện thoại liên hệ của cơ quan đã ra quyết định truy nã.

Vui lòng liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn

Tham khảo thêm: Truy nã bị can được thực hiện như thế nào?