- 1. Trường hợp nào thì chủ nợ được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng?
- 2. Quy định việc phân chia giá trị tài sản của tổ chức tín dụng khi thực hiện thủ tục phá sản ?
- 3. Thời hạn Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản?
- 4. Chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có phải tham gia Hội nghị chủ nợ không?
1. Trường hợp nào thì chủ nợ được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng?
Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng được quy định trong Điều 98 của Luật Phá sản 2014 có hiệu lực như sau:
Sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán, trong trường hợp tổ chức tín dụng vẫn không thể thanh toán được, những đối tượng sau đây có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
+ Các đối tượng được quy định tại các khoản 1, 2, 5 và 6 của Điều 5 Luật Phá sản 2014. Đây gồm các bên liên quan như chủ nợ, người mua hàng, người thuê mặt bằng, người lao động, người có quyền sử dụng tài sản của tổ chức tín dụng đó.
+ Tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Nếu tổ chức tín dụng không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thay cho tổ chức tín dụng đó.
Luật Phá sản 2014 cũng quy định rõ về người có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Theo đó:
+ Chủ nợ không có tài sản đảm bảo hoặc chỉ có một phần tài sản đảm bảo có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi đã qua 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp hoặc hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
+ Người lao động, công đoàn cơ sở và công đoàn cấp trên trực tiếp tại những địa điểm chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi đã qua 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương và các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp hoặc hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Điều này có nghĩa là chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng trong các trường hợp sau:
+ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn không thể thanh toán được.
+ Sau khi đã qua 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
2. Quy định việc phân chia giá trị tài sản của tổ chức tín dụng khi thực hiện thủ tục phá sản ?
Việc phân chia giá trị tài sản của tổ chức tín dụng khi thực hiện thủ tục phá sản được quy định tại khoản 1 Điều 101 Luật Phá sản 2014 theo một thứ tự xác định. Đầu tiên, chi phí phá sản được ưu tiên trả trước. Sau đó, các khoản nợ khác được xem xét theo thứ tự ưu tiên.
Thứ tự phân chia tài sản như sau:
+ Chi phí phá sản: Đây là chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện thủ tục phá sản và được ưu tiên thanh toán trước.
+ Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết: Đây là các khoản nợ liên quan đến quyền lợi của người lao động và được ưu tiên trả sau chi phí phá sản.
+ Khoản tiền gửi; khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền tại tổ chức tín dụng phá sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Đây là các khoản tiền gửi của khách hàng tại tổ chức tín dụng và được ưu tiên trả sau các khoản trên.
+ Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ: Đây là các khoản nợ liên quan đến nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và các khoản nợ không có bảo đảm, hoặc có bảo đảm nhưng giá trị tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán. Các khoản này được ưu tiên trả sau các khoản trên.
Trường hợp giá trị tài sản của tổ chức tín dụng sau khi đã thanh toán đủ các khoản nợ nêu trên mà vẫn còn thì phần còn lại sẽ được phân chia cho các đối tượng khác theo thứ tự ưu tiên:
- Thành viên của tổ chức tín dụng là hợp tác xã.
- Chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
- Thành viên góp vốn của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; cổ đông của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần.
Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ ưu tiên trên, thì các đối tượng thuộc cùng một thứ tự ưu tiên sẽ được thanh toán một phần trên tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ của họ.
3. Thời hạn Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản?
Quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản được quy định tại Điều 104 của Luật Phá sản 2014 rằng, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày mà Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản hoàn thành việc lập danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ và bảng kê tài sản của tổ chức tín dụng, Tòa án nhân dân sẽ ra quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản. Điều này có nghĩa là quá trình phá sản của tổ chức tín dụng sẽ chính thức được khởi động sau khi Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.
Luật Phá sản 2014 cũng quy định rằng Tòa án nhân dân tối cao sẽ hướng dẫn việc thi hành Điều này. Điều này có nghĩa là Tòa án nhân dân tối cao sẽ cung cấp hướng dẫn chi tiết và hỗ trợ cho các tòa án nhân dân cấp dưới trong việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản của tổ chức tín dụng.
Do đó, theo quy định của Luật Phá sản 2014, tổ chức tín dụng sẽ bị tuyên bố phá sản sau khi Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản hoàn thành việc lập danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ và bảng kê tài sản trong thời hạn 30 ngày. Tòa án nhân dân sẽ đưa ra quyết định tuyên bố phá sản, và quá trình phá sản chính thức của tổ chức tín dụng sẽ bắt đầu từ đó.
4. Chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có phải tham gia Hội nghị chủ nợ không?
Theo quy định tại Điều 78 của Luật Phá sản 2014 về nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán đều có nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ. Trường hợp họ không thể tham gia Hội nghị, họ phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác tham gia Hội nghị chủ nợ, và người được ủy quyền có quyền và nghĩa vụ tương tự như người ủy quyền.
Nếu người đại diện của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có quyền đệ đơn văn bản đề nghị Tòa án nhân dân xử lý theo quy định của pháp luật.
Từ đó, có thể rút ra rằng chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp bắt buộc phải tham gia Hội nghị chủ nợ theo quy định của Luật Phá sản 2014. Điều này đảm bảo sự tham gia và đại diện cho lợi ích của chủ nợ trong quá trình xem xét và giải quyết vấn đề phá sản của doanh nghiệp.
Xem thêm >>> Phá sản doanh nghiệp là gì? Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản khi nào?
Nếu quý khách hàng gặp bất kỳ khó khăn hoặc thắc mắc nào liên quan đến bài viết hoặc pháp luật, chúng tôi rất mong nhận được sự phản hồi và cung cấp hỗ trợ tận tâm để giải quyết vấn đề của quý khách. Để thuận tiện cho việc liên hệ và nhận được sự hỗ trợ kịp thời, chúng tôi đã thiết lập tổng đài tư vấn pháp luật 1900.6162 và địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn.