1. Đăng ký hưởng bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian thử việc ?

Chào luật sư, em nghỉ việc ở Công ty đầu tiên ngày 5/9/2016, khoảng gần 1 tháng sau em nhận sổ bhxh và quyết định nghỉ việc sau đó thì có đi đăng ký bảo hiểm thất nghiệp luôn. Ngày 7/11/2016 em nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, sau 7 ngày em đi rút bảo hiểm thất nghiệp lần 1.

Theo quyết định, thì em sẽ trình diện để nhận bảo hiểm lần 2 từ ngày 7 - 9/12/2016 và lần 3 là từ 9/1 - 11/1/2017 tuy nhiên, ngày 26/10/2016 em bắt đầu đi làm tại công ty mới (vẫn đảm bảo yêu cầu chưa có công việc mới sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ đăng ký hưởng bhtn), em thử việc trong 2 tháng và giai đoạn này ko tham gia bảo hiểm. Như vậy em vẫn nhận trợ cấp bhtn tháng 1 và 2. Ngày 26/12/2016 em ký hợp tuy nhiên đợt đó gần lễ nên em chưa nhận được hợp đồng liền. Đến ngày 10/1/2017 em có đem hợp đồng lên trung tâm giới thiệu việc làm bd để báo mình đã ký hợp đồng và ko nhận tháng thứ 3 (theo giấy thời gian báo từ ngày 9 - 11/1/2017).

Các anh chị hướng dẫn thủ tục đóng dấu vào quyết định và nói em không hưởng bhtn tháng thứ 3 nữa. Khi qua công ty mới em có cung cấp số sổ cho phòng nhân sự để đóng bhxh (đăng ký theo phiếu yêu cầu của công ty từ ngày bắt đầu nhận việc 26/10/2016) , tuy nhiên đến khi em nghỉ việc ngày 31/12/2017 (em ko tái ký tiếp) thì đến tận bây giờ em vẫn chưa nhận lại đc sổ bhxh, liên hệ với cty cũ thì em đc báo là do mình có 2 sổ đang cần gộp lại và chiều nay công ty cũ gọi em nói là bên bhxh gọi về để xác nhận lại nơi em đã làm thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp và có khả năng em sẽ bị truy thu 1 tháng.

Hiện em vẫn chưa nhận được công văn này luật sư cho em hỏi trường hợp của em có bị truy thu lại tiền bhtn đã nhận không a ?

Em cảm ơn.

Luật sư trả lời:

Luật việc làm năm 2013 quy định về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, cụ thể:

Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.

Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định về các trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, cụ thể:

Điều 21. Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Các trường hợp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:

a) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động;

b) Có việc làm

Người lao động được xác định là có việc làm thuộc một trong các trường hợp sau:

- Đã giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc từ đủ 03 tháng trở lên. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc có hiệu lực theo quy định của pháp luật;

- Có quyết định tuyển dụng đối với những trường hợp không thuộc đối tượng giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Ngày có việc làm trong trường hợp này được xác định là ngày bắt đầu làm việc của người đó ghi trong quyết định tuyển dụng;

- Người lao động thông báo đã có việc làm cho trung tâm dịch vụ việc làm theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày ghi trong thông báo có việc làm của người lao động.

Ngày 26/10/2016 bạn đi làm tại công ty mới theo hợp đồng thử việc 02 tháng, thợi gian này vẫn được coi là chưa có việc làm nên bạn vẫn được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Sử dụng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có phải đóng bảo hiểm xã hội không, thử việc có cần giấy phép lao động?

2. Nghỉ việc trong thời gian thử việc có bị trừ 50% lương không ?

Chào luật sư, ngày 9/3/2018 e bắt đầu thử việc tại công ty A, thỏa thuận là thử việc 2 tháng ( không ký hợp đồng thử việc), nhưng trong quá trình làm việc em cảm thấy công việc không phù hợp và viết đơn xin thôi việc vào ngày 24/4/2018 và e làm việc đến hết ngày 24/4/2018 nhưng sếp không ký đơn thôi việc, đến hôm nay là ngày 10/5/2018 là đến ngày nhận lương, nhưng công ty nói e nghỉ k báo trước nên công ty trừ 50% tổng lương của em.

Luật sư cho em hỏi công ty làm như vậy là đúng hay sai, và e làm gì để có thể bảo vệ quyền lợi của mình ạ ?

Mong nhận được câu trả lời sớm từ luật sư. E chân tàhnh cám ơn.

Luật sư tư vấn

Theo quy định của pháp luật thì hợp đồng thử việc là sự thỏa thuận của người sử dụng lao động và người lao động về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc. Theo đó, căn cứ theo quy định tại điều 26 Bộ luật lao động 2019 (sẽ có hiệu lực vào ngày 01/1/2021) thì tiền lương trong thời gian thử việc ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó ( mức lương của công việc phải bằng hoặc hơn so với mức lương tối thiểu vùng nơi người lao động làm việc ). Cụ thể:

Điều 26. Tiền lương thử việc

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Sau khi kết thúc thời gian thử việc hoặc trong thời gian thử việc mà người lao động cảm thấy công việc không phù hợp thì có quyền chấm dứt hợp đồng thử việc mà không cần phải báo trước, đồng thời người lao động không phải bồi thường bất kỳ một khoản chi phí nào ( trừ trường hợp trong quá trình làm việc người lao động gây thiệt hại đối với tài sản của công ty mà việc thiệt hại này là do lỗi của người lao động. Điều này được ghi nhận cụ thể tại Điều 27 Bộ luật lao động 2019 (sẽ có hiệu lực vào ngày 01/1/2021) như sau:

Điều 27. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.

Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.

Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 94 về nguyên tắc trả lương cho người lao động thì người sử dụng lao động phải trả lương đầy đủ, đúng hạn cho người lao động.

Điều 94. Nguyên tắc trả lương

1. Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.

2. Người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.

Như vậy, căn cứ theo những quy định trên thì việc công ty bạn giữ lại 50% lương của bạn vì xin nghỉ việc không báo trước ( trong thời gian thử việc) là trái quy định của pháp luật. Đối với trường hợp này bạn có quyền làm đơn yêu cầu lên Ban giám đốc công ty để được giải quyết trả lương đầy đủ và đúng hạn cho bạn. Nếu công ty không giải quyết được quyền lợi hoăc giải quyết chưa thỏa đáng thì bạn có quyền làm đơn đề nghị lên Phòng lao động thương binh và xã hội quận, huyện hoặc khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận, huyện nơi công ty có trụ sở để được yêu cầu giải quyết.

>> Xem thêm:  Hỏi về hoàn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với hợp đồng thử việc ?

3. Nghỉ trong thời gian thử việc mà ký hợp đồng chính thức ?

Thưa luật sư, em có vào làm 1 công ty nước ngoài vào ngày 10/01/2017, thời gian thử việc là 2 tháng. Trong thời gian làm việc em có ký hợp đồng 1 năm và 2 tháng nhưng trong hợp đồng có ghi sau hai tháng thử việc nếu không phù hợp có thể kết thúc hợp đồng. Công ty cũng có đóng bảo hiểm cho em trong thời gian thử việc luôn.
Nhưng công việc thường xuyên tăng ca và sếp bắt em phải đi làm trong ngày nghỉ của mình ( quy định của công ty nếu tăng ca từ thứ 2 đến thứ 6 mỗi ngày 2 tiếng sẽ được nghỉ thứ 7) nên em không muốn làm nữa. Em nghỉ ngang ngày 04/03/2017 tức là vẫn trong thời gian thử việc. Bây giờ công ty yêu cầu em phải quay lại làm việc nếu 3 lần gửi thư về nhà mà em vẫn không đi làm lại là em nghỉ ngang trái pháp luật theo điều 41 Luật lao động và phải bồi thường cho công ty. Bây giờ em phải làm như thế nào ạ ? Xin luật sư tư vấn giúp em, theo em được biết trong thời gian thử việc em có quyền nghỉ ngang không cần xin phép ?
Em cám ơn ạ.

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 24, 25, 26 của Bộ luật lao động 2019 (sẽ có hiệu lực vào ngày 01/1/2021)

"Điều 24. Thử việc

1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hp đng thử việc.

2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.

3. Không áp dụng thử việc đối với người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng."

Điều 25. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:

1. Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

2. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đng trở lên;

3. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;

4. Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác

Điều 27. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.

Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.

Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.

Như vậy, căn cứ khoản 2 Điều 27 Bộ luật lao động 2019 (sẽ có hiệu lực vào ngày 01/1/2021) thì bạn có quyền hủy bỏ thỏa thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử mà hai bên đã thỏa thuân. Việc áp dụng của công ty đối với bạn là sai, bởi lẽ bạn chưa kết thúc thời gian thử việc nhưng công ty lại kí với bạn hợp đồng làm việc 1 năm 2 tháng. Trong thời gian thử việc thì bạn không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội. Hơn nữa trong hợp đồng lao động đã ghi rõ thời hạn hợp đồng là 1 năm 2 tháng nhưng hợp đồng có ghi sau 2 tháng thử việc nếu không phù hợp thì có thể chấm dứt hợp đồng.

>> Xem thêm:  Người lao động có quyền yêu cầu công ty cấp chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân ?

4. Quyền lợi mà người lao động (NLĐ) được hưởng trong thời gian thử việc ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em là sinh viên mới ra trường, đi làm cho 1 công ty xây dựng. Sau 1 tháng thử việc từ 23/3-22/4/2018, công ty có hẹn ngày lên thỏa thuận ký hợp đồng chính thức. Tuy nhiên ngày 29/4/2018 em tự ý nghỉ việc. Vậy em có được phép nhận tiền lương thử việc không ạ? Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

- Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

- Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

- Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

Theo đó, quyền lợi NLĐ được hưởng trong thời gian thử việc như sau: được trả lương trong thời gian thử việc (do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó), được quy định cụ thể về thời gian làm việc và được trang bị bảo hộ lao động.

Theo thông tin anh cung cấp, anh đã tự ý nghỉ việc nên sẽ được xác định là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Khi chấm dứt hợp đồng lao động, nghĩa vụ của người sử dụng lao động được quy định tại Điều 40,Bộ luật lao động 2019 (sẽ có hiệu lực vào ngày 01/1/2021):

Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc.

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Theo đó, trong thời hạn từ 7 ngày đến 30 ngày từ lúc anh nghỉ việc thì công ty phải có nghĩa vụ thanh toán nốt tiền lương cho anh trong thời gian anh thử việc. Tức là công ty vẫn phải thanh toán tiền lương thử việc cho anh dù anh đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Theo thông tin anh cung cấp, anh đã tự ý nghỉ việc nhưng anh không nói rõ lý do xin nghỉ việc của anh nên sẽ có các trường hợp sau:

– Trường hợp 1: Nếu hợp đồng lao động của anh là hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì không cần đưa ra lý do nghỉ việc nhưng anh phải báo trước cho công ty 45 ngày. Tuy nhiên anh đã tự ý nghỉ việc nên anh đã vi phạm về thời hạn báo trước nên theo Khoản 2 Điều 40 Bộ luật lao động 2019 (sẽ có hiệu lực vào ngày 01/1/2021):

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

– Trường hợp 2: Nếu hợp đồng lao động của anh là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật, lý do xin nghỉ việc của anh phải thuộc các trường hợp sau:

- Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

- Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

- Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

- Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

- Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

- Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

-Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn, thời hạn báo trước được quy định theo điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật lao động 2019 (sẽ có hiệu lực vào ngày 01/1/2021) như sau:

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Trong trường hợp anh đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật thì anh vẫn vi phạm về thời hạn báo trước và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

- Trường hợp 3: Hợp đồng lao động của anh là hợp đồng lao động xác định thời hạn và anh đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật (lý do nghỉ việc không thuộc các trường hợp kể trên) thì theo Điều 40 Bộ luật lao động 2019 (sẽ có hiệu lực vào ngày 01/1/2021) như sau:

Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc.

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Và trong trường hợp này anh vẫn vi phạm về thời hạn báo trước và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

>> Xem thêm:  Tư vấn về hợp đồng học việc ?

5. Mức xử phạt khi người sử dụng lao động vi phạm về thời gian thử việc

Xin chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có yêu cầu mong công ty tư vấn giúp tôi: Tôi có ký kết hợp đồng thử việc với một công ty cổ phần với thời hạn là 04 tháng. Nhưng theo tôi được biết, thời gian thử việc không quá 60 ngày. Vậy xin cho hỏi, công ty tôi ký kết hợp đồng thử việc làm như vậy có đúng không? Nếu không đúng quy định của pháp luật thì công ty cổ phần sẽ bị xử phạt như thế nào?
Mong sớm nhận được phản hồi của công ty, tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ theo Điều 25 Bộ luật lao động 2019 (sẽ có hiệu lực vào ngày 01/1/2021) quy định về Thời gian thử việc:

Điều 25. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:

1. Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

2. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đng trở lên;

3. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;

4. Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.

Như vậy, thời gian thử việc tối đa đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên là 60 ngày; đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ là không quá 30 ngày; đối với các công việc khác là khồng quá 06 ngày. Theo như thông tin bạn cung cấp, bạn đã ký hợp đồng thử việc với một công ty cổ phần với thời gian thử việc là 04 tháng. Do đó, việc công ty ký kết hợp đồng thử việc với thời hạn là 04 tháng là không đúng với quy định của pháp luật.

Căn cứ theo Điều 6 Nghị định 28/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định về vi phạm quy định về thử việc:

Điều 9. Vi phạm quy định về thử việc

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu thử việc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ;

b) Không thông báo kết quả công việc người lao động đã làm thử theo quy định của pháp luật.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người lao động thử việc quá 01 lần đối với một công việc;

b) Thử việc quá thời gian quy định;

c) Trả lương cho người lao động trong thời gian thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó;

d) Kết thúc thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động không giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả

a) Buộc trả đủ tiền lương của công việc đó cho người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1, điểm a, b, c, d khoản 2 Điều này;

b) Buộc giao kết hợp đồng lao động với người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 2 Điều này.

Như vậy, trong trường hợp này, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu công ty thay đổi thời gian thử việc sao cho đúng theo quy định của pháp luật với mức tối đa cao nhất là 60 ngày. Nếu công ty không đồng ý, bạn có quyền chấm dứt hợp đồng thử việc với công ty, đồng thời có quyền làm đơn khiếu nại nộp trực tiếp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện nơi công ty đặt trụ sở chính để yêu cầu xử lý hành vi vi phạm hành chính của công ty. Hành vi của công ty cổ phần khi yêu cầu người lao động thử việc quá thời gian quy định sẽ bị phạt tiền 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Phải làm thế nào để không bị khấu trừ 10% thuế Thu nhập cá nhân ?