1. Tự bảo vệ quyền dân sự khi nào?

Do tính chất đặc trưng của quan hệ xã hội trong phạm vi điều chỉnh nên pháp luật dân sự không mang tính chất “trừng trị”, “răn đe”; không bắt buộc các chủ thể nhất thiết phải tuân theo trong mọi điều kiện, hoàn cảnh hoặc là một sự cấm đoán tuyệt đối. Tính chất các chế tài “cưỡng chế” trong luật dân sự cũng có những đặc trưng riêng khác với các ngành luật khác. Sự tùy nghi trong cam kết, thỏa thuận của các chủ thể nhằm xác lập những quyền, nghĩa vụ dân sự trong các quan hệ dân sự được Nhà nước tôn trọng và luôn được sự bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế. Thông qua sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật dân sự đối với các quan hệ xã hội, sẽ làm cho các quan hệ xã hội trở thành quan hệ pháp luật dân sự, chủ thể trong quan hệ đó có những quyền, nghĩa vụ tương ứng được pháp luật công nhận, bảo vệ.

Vì vậy, trong nhiều trường họp, với tính chất là một quy phạm pháp luật trong các điều luật cụ thể nhưng có nội dung hướng dẫn, chỉ dẫn để các chủ thể khi xác lập, thực hiện quan hệ dân sự biết và làm theo, bao gồm cả việc thỏa thuận chế tài hoặc trách nhiệm trong những trường họp cần thiết. Tuy nhiên, những quyền, nghĩa vụ dân sự trong các quan hệ dân sự được các chủ thể xác lập luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Như vậy, vấn đề bảo vệ quyền dân sự chỉ đặt ra trong trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm. Nếu quyền dân sự không bị xâm phạm thì các chủ thể có thể thực hiện quyền của mình tùy thuộc vào ý chí, đảm bảo lợi ích của bản thân.

2. Tự bảo vệ quyền dân sự như thế nào?

"Việc tự bảo vệ quyền dân sự phải phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó" (Điều 12 Bộ luật dân sự 2015).

Việc tự bảo vệ quyền dân sự phải phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó. Đây là một nội dung mới định quy định trong Bộ luật dân sự 2015, Bộ luật dân sự trước đây thì không có quy định này. Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể có quyền dân sự bị xâm phạm có thể sử dụng các biện pháp để tự bảo vệ các quyền dân sự của mình theo quy định của pháp luật dân sự như: tự bảo vệ, ngăn cản, truy tìm, đòi lại tài sản, thực hiện các biện pháp tác động...

Quyền đòi lại tài sản được quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự 2015: Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

Điều 166. Quyền đòi lại tài sản

1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó.

Hay quyền tự vệ được quy định tại Điều 22 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 như sau:

"Điều 22. Phòng vệ chính đáng

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này."

Nếu việc tự bảo vệ quyền dân sự vượt quá mức độ, tính chất của hành vi xâm phạm, thì người đó sẽ phải bồi thường và chịu trách nhiệm về phạm vi vượt quá đó. Như trong trường hợp vượt quá phạm vi phòng chính đáng thì phải bồi thường theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015:

"Điều 594. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại."

Nếu nghiêm trọng hơn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự:

>> Xem thêm:  Mức bồi thường thỏa đáng đối với đất nông nghiệp khi bị nhà nước thu hồi ?

"Điều 126. Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội
1. Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm."

3. Tự bảo vệ quyền dân sự phải đảm bảo nguyên tắc gì?

Khi thực hiện biện pháp tự bảo vệ, yêu cầu cơ bản là không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.

2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.

4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

Khi chủ thể quyền dân sự không thể thực hiện biện pháp tự bảo vệ quyền dân sự bị xâm phạm, thì người có quyền dân sự bị xâm phạm có thể thực hiện các phương thức bảo vệ quyền dân sự như quy định tại Điều 11 BLDS năm 2015:

Điều 11. Các phương thức bảo vệ quyền dân sự

Khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền:

1. Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình.

2. Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm.

3. Buộc xin lỗi, cải chính công khai.

4. Buộc thực hiện nghĩa vụ.

5. Buộc bồi thường thiệt hại.

6. Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

7. Yêu cầu khác theo quy định của luật.

4. Quyền dân sự bị xâm phạm thì được bồi thường như thế nào?

Điều 13 Bộ luật dân sự 2015 có quy định: "Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại".

Do phạm vi điều chỉnh của luật dân sự chủ yếu là các quan hệ tài sản có tính chất hàng hóa - tiền tệ, nên sự vi phạm của một bên có thể dẫn đến sự thiệt hại về tài sản hoặc tinh thần cho phía bên kia. Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ những thiệt hại vật chất đã xảy ra.

Khi cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm có quyền yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Trách nhiệm tài sản trong pháp luật dân sự thông thường là các nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Vì vậy, buộc bồi thường toàn bộ thiệt hại cũng được xem là chế tài của pháp luật dân sự và là nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015.

Nếu một bên trong hợp đồng vi phạm nghĩa vụ thì bên kia có quyền yêu cầu bồi thường:

Điều 419. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng (Bộ luật dân sự)

1. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này.

2. Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.

3. Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc.

Hay trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì có quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

>> Xem thêm:  Người gây tai nạn giao thông rồi bỏ trốn thì sẽ bị pháp luật xử lý như thế nào?

5. Các bên có được tự thỏa thuận bồi thường?

Do cơ sở để xác lập, thực hiện các quan hệ dân sự theo nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự năm 2015 là: tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận của các chủ thể. Vì vậy, các chủ thể của quan hệ dân sự còn có quyền thỏa thuận với nhau cả về những nội dung chưa (hoặc không) được quy định trực tiếp trong Bộ luật dân sự, bao gồm cả chế tài và trách nhiệm bồi thường toàn bộ hay chỉ bồi thường một phần thiệt hại. Vì vậy, Điều 13 Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định: “... trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Trong những trường hợp nhất định, người bị thiệt hại có thể miễn hoàn toàn trách nhiệm cho người gây thiệt hại, nếu có thỏa thuận.

Ví dụ trong trường hợp xâm phạm sức khỏe của người khác thì phải bồi thường theo Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 "Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường ... và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận...".

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về vấn đề tự bảo vệ quyền dân sự và bồi thường thiệt hại. Nếu còn vướng mắc vui lòng liên hệ số tổng đài: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Mua đất nông nghiệp theo Nghị định 64 thì có cấp sổ đỏ được không ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Khi nào được coi là phòng vệ chính đáng?

Trả lời:

Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Câu hỏi: Khi nào thì phải bồi thường?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015:  Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Câu hỏi: Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ?

Trả lời:

Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ (Bộ luật dân sự)

1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.

2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.