1. Khái niệm về chiến tranh
Chiến tranh là hiện tượng chính trị - xã hội được thể hiện bằng đấu tranh vũ trang giữa các nước hoặc liên minh các nước, giữa các giai cấp đối kháng trong một nước, giữa các sắc tộc, dân tộc hoặc tôn giáo nhằm đạt tới những mục đích chính trị và kinh tế nhất định. Mọi cuộc chiến tranh, xét về bản chất xã hội, đều là sự tiếp tục chính trị bằng bạo lực. Trong thời đại ngày nay, chiến tranh là một cuộc đấu tranh toàn diện (quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hoá, tâm lí, tư tưởng...) giữa hai bên đối địch. Chiến tranh chi phối mọi mặt hoạt động của xã hội, của nhà nước và nhân dân. Chiến tranh thử thách toàn bộ sức mạnh chính trị - tinh thần, kinh tế, quân sự và tổ chức của mỗi nước, mỗi chế độ xã hội.
Có thể phân loại chiến tranh theo nhiều cách: theo mục đích chính trị có chiến tranh chính nghĩa (tiến bộ, cách mạng, chống xâm lược...) và chiến tranh phi nghĩa (phản động, phản cách mạng, xâm lược...);
- Theo quy mô có chiến tranh cục bộ, chiến tranh thế giới...;
- Theo phương tiện sử dụng có chiến tranh thông thường, chiến tranh hạt nhân, chiến tranh hoá học...;
- Theo hình thức và phương pháp tác chiến có chiến tranh trận điạ, chiến tranh vận động, chiến tranh du kích... và theo nhiều tiêu chí khác.
Diễn biến và kết cục của chiến tranh cùng các phương thức tiến hành chiến tranh phụ thuộc vào nhiều nhân tố: chế độ kinh tế và trình độ phát triển của lực lượmg sản xuất, trình độ phát triển của khoa học - kĩ thuật, chế độ chính trị - xã hội, tinh thần của nhân dân, sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang... trong đó nhân tố chính trị - tinh thần thể hiện ở khả năng chịu đựng của nhân dân và lực lượng vũ trang trước những đòi hỏi phải nỗ lực ghê gớm, những khó khăn mất mát lớn lao phải vượt qua để giữ vững lòng tin và ý chí chiến thắng có một ý nghĩa rất quan trọng.
Chiến tranh đã xuất hiện từ thời kỳ đồ đá. Khi con người biết tạo ra vũ khí, chiến tranh bắt đầu giữa các bộ lạc, thị tộc thời cổ đại. Chiến tranh diễn ra nhiều nhất vào thời kỳ phong kiến, khi mà nền quân chủ được thiết lập, một quốc gia hình thành dựa trên sự lãnh đạo của nhà vua. Họ mở rộng lãnh thổ bằng chiến tranh xâm lược các vùng lãnh thổ khác. Ngày nay, sự phát triển của nhiều loại vũ khí huỷ diệt lớn, những thành tựu của khoa học và kĩ thuật được đưa vào trong trang bị quân đội, nhiều nước đã có vũ khí hạt nhân... đã làm cho chiến tranh, nếu xảy ra, thực sự là một tai họa lớn cho toàn nhân loại. Nhận thức được nguy cơ này, nhân dân thế giới đang tích cực đấu tranh giữ gìn hoà bình, đòi hỏi giải quyết mọi tranh chấp bằng các giải pháp chính trị và sẵn sàng làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây chiến của bất cứ một quốc gia hoặc thế lực nào. Vậy, trong thời kỳ phong kiến quân chủ, chiến tranh được quan niệm như thế nào?
2. Nguyên tắc phòng thủ của các quốc gia
Một nước muốn giữ được sức mạnh thì lãnh thổ của nó nên rộng vừa phải để có thể nhanh chóng vận dụng các lực lượng chống lại một mưu đồ tấn công nào đó và lập tức làm cho nó thất bại. Lực lượng tấn công có thể xuất hiện bất cứ nơi nào thì lực lượng phòng thủ phải biểu thị ngay tại nơi đó.
Ví dụ: Nước Pháp và nước Tây Ban Nha đều có diện tích rộng vừa phải. Các lực lượng có thể giao lưu với nhau rất thuận lợi. Các đạo quân có thể hội sư và di chuyển nhanh từ biên giới phía này sang biên giới phía kia, và người ta không sợ bất cứ một việc gì có thể xảy ra mà cần phải đối phó trong một thời gian nhất định.
Nước Pháp có cái hay là Thủ đô không xa các vùng biên giới khác nhau. Độ cách xa tỷ lệ thuận với mức yếu kém của từng vùng, và nhà vua có thể nắm được tình hình tất cả các vùng trong nước.
Một nước rộng lớn như Ba Tư, nếu bị tiến công thì phải nhiều tháng mới tập hợp được lực lượng của tất cả các quân đoàn.
Sức mạnh của một ông vua không phải ở chỗ có sự thuận lợi để thâu tóm, mà chính là ở chỗ có cái khó khăn để khắc phục. Các bậc quân vương cần có tài trí để tăng gia thế lực, đồng thời không được thiếu cảnh giác để hạn chế sự bành trướng. Trong khi khắc phục thế yếu kém vì nhỏ bé, phải để mắt tói những bất trắc khi bành trướng ra to.
3. Quan niệm về chiến tranh
Lực lượng tiến công là do quyền con người điều chỉnh. Quyền này thuộc về luật chính trị, xác định mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau.
Đời sống của các quốc gia cũng như đời sống của con người. Mỗi người có quyền giết trong trường hợp bị tấn công tự nhiên; mỗi quốc gia có quyền tiến hành chiến tranh khi cần phải tự vệ.
Giữa các công dân, quyền tự vệ tự nhiên không nhất thiết bao gồm việc tấn công kẻ khác. Đáng lẽ tân công thì ngưòi công dân chỉ cần kiện ra toà án; trừ trường hợp nếu chờ sự can thiệp của pháp luật thì đã nguy đến tính mạng. Lúc đó người công dân mới được quyền tấn công để tự vệ.
Nhưng giữa các xã hội thì quyền tự vệ tự nhiên một đôi khi có thể kéo theo sự cần thiết phải tấn công. Khi một dân tộc thấy rằng nếu cứ để yên lâu dài thì đối phương sẽ tiêu diệt mình; lúc đó tấn công là biện pháp duy nhất để giữ cho dân tộc khỏi bị tiêu diệt. Do đó các nước nhỏ thường có quyền tiến hành chiến tranh nhiều hơn là các nước lớn, vì nước nhỏ thường hay bị tấn công và bị tiêu diệt.
Như vậy quyền chiến tranh phát sinh từ tính tất yếu và từ lẽ công bằng cứng rắn. Những người hướng dẫn lương tâm và Hội đồng tư vấh của các ông vua mà không nắm vững điều này thì sẽ mất hết. Trái lại, khi người ta nắm điều riày mà lại dựa trên nguyên tắc độc đoán để tìm vinh quang, để giữ lời hứa, để thu lợi ích kỷ thì máu sẽ chảy trấn trái đất!
Mong rằng người ta đừng nói đến vinh quang của vua chúa. Vinh quang đó sẽ đưa tới kiêu ngạo. Đó là dục vọng chứ không phải quyền lợi chính đáng.
Thật ra thì tiếng tăm về sự hùng mạnh của vua chúa cũng làm tăng thêm lực lượng của quốc gia; nhưng nếu vua nổi tiếng là công minh thì đất nước còn mạnh lên hơn nữa.
4. Quyền chinh phục
Từ quyền chiến tranh mà dẫn tới quyền chinh phục, đó là hệ quả; nhưng phải nắm tinh thần của vấn đề này.
Khi một dân tộc bị chinh phục thì kẻ chinh phục cần tuân theo bốn thứ luật sau đây: Một là luật tự nhỉến, tức là luật bảo tồn mọi thứ. Hai là luật ánh sáng, tức là chỉ được làm
Nên hiểu Montesquieu muốn nói "tấn công để khỏi bị tấn công". Nhưng như vậy cũng nguy hiểm. Trong sách "Thư Ba Tư" ông nói chính xác hơn: "Chỉ có hai thứ chiến tranh đúng đắn là chiến tranh để đuổi kè thù đạng tấn công mình, và chiến tranh để cứu một bạn đồng minh đang bị tấn công".
cho người những điều mà mình muốn người làm cho mình. Ba là luật cấu trúc xã hội chính trị, mà thỉên nhiên đòi hỏi mỗi xà hội phải tồn tại lâu dài. Cuối cùngỉà luật trong từng sự vật, tức là chinh phục thì phải thu hoạch, mà muốn thu hoạch thì phải bảo tồn và sử dụng, chứ không được hủy diệt.
Một nước đã chinh phục được nước khác thường đối xử với nước bị chinh phục bằng một trong bốn cách sau đây: Hoặc là cai trị nước này đúng như luật của nước mình; hoặc là lập ra cho nước đó một. chính thể chính trị và dân sự ; hoặc là phá bỏ xã hội sẵn có để di tản nó vào một xã hội khác; hoặc là diệt chủng, loại trừ hết mọi công dân bị chinh phục.
Cách thứ nhất phù hợp với công pháp quốc tế mà ngày nay chúng ta đang theo. Nên ca ngợi thời hiện đại của chúng ta với lý trí, tôn giáo, triết học và cả phong tục tốt đẹp.
5. Số phận của dân tộc bị đô hộ
Kẻ chinh phục đến với một dân tộc thường có hàng trăm cung cách tinh ranh. Bọn giàu có tìm đủ mọi cách để thoán đoạt; kẻ nghèo khó thì đau lòng nhìn những điều lạm dụng biến thành luật pháp. Trong khi bị áp bức, người ta nghĩ rằng kêu ca là có tội. Kẻ chinh phục có thể đánh lạc hướng tất cả, và bạo lực tạo ra một thứ cường quyền điếc đặc.
Thỉnh thoảng nước đi chinh phục dễ tính cũng để lại cho dân bại trận một đôi thứ cần thiết mà trước kia họ bị vua mình tước đoạt mất. Tôi dám nói rằng cuộc chinh phục có thể xoá đi những mê tín có hại và đặt một dân tộc dưới một vị thần tốt hon.
Người Bồ Đào Nha có thể giúp dân Mêhicô nhiều chuyện, như đưa lại cho họ một tôn giáo dịu dàng; nhưng họ lại bày rạ những điều nhảm nhí tồi tệ. Đáng lẽ họ có thể giải phóng nô lệ thì họ lại bắt những người tự do Mêhicô lắmm nô lệ. Đáng lẽ họ giải thích cho dân bản địa chớ đem mạng người làm lễ tế thần thì họ lại thực hiện tiệt chủng người Mêhicô...
Tôi muốn kể mãi những điều tốt lành mà kẻ chinh phục không chịu làm, và vô số những điều xấu xa họ đã làm!
Những người đi chinh phục có trách nhiệm sửa chữa lại những điều xấu xa mà họ đã làm.
Tôi định nghĩa về quyến chinh phục như sau: Đó là một quyền cần thiết, hợp pháp và bất hạnh, nó luôn luôn để lại món nợ to lớn đối với bản chất của loài người.
6. Tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin về chiến tranh
* Chiến tranh là một hiện tượng chính trị - xã hội
Các nhà kinh điển của chủ nghĩ Mác khẳng định: Chiến tranh là hiện tượng chính trị xh có tính lịch sử , đó là cuộc đấu tranh vũ trang có tổ chức giữa các giai cấp,nhà nước( hoặc liên minh giữa các nước ) nhằm mục đích chính trị nhất định.
*Nguồn gốc nảy sinh chiến tranh:
Chủ nghĩa Mác-Lenin khẳng định:
- Sự xuất hiện và tồn tại của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sx là nguồn gốc trực tiếp (nguồn gốc kinh tế ),Suy đến cùng đã dẫn đến sự xuất hiện và tồn tại của chiến tranh.Đồng thời,sự xuất hiện và tồn tại của giai cấp và đối kháng giai cấp là nguồn gốc sâu xa(nguồn gốc xh) dẫn đến sự xuất hiện và tồn tại của chiến tranh.
- Ăngghen chỉ rõ, chiến tranh là "bạn đường" của mọi chế độ tư hữu.phát triển những luận điểm của Mác - Ăngghen về chiến tranh trong điều kiện lịch sử mới, Lênin chỉ rõ trong thời đại ngày nay còn chủ nghĩa đế quốc thì còn nguy cơ xảy ra chiến tranh,chiến tranh là bạn đường của chủ nghĩa đế quốc.
Như vậy, chiến tranh có nguồn gốc từ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất có đối kháng giai cấp và áp bức bóc lột,chiến tranh không phải là 1 định mệnh gắn liền với con người và xh loài người.
Như vậy, muốn xóa bỏ chiến tranh phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra nó.
*Bản chất của chiến tranh:
- Theo Lênin:" chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng những biện pháp khác"(cụ thể bằng bạo lực).
Bên cạnh đó, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: chiến tranh là một thời đoạn, một bộ phận của chính trị, nó không làm gián đoạn chính trị.Ngược lại,mọi chức năng,nhiệm vụ của chính trị đều phải thực hiện tiếp tục trong chiến tranh.
- Giữa chiến tranh và chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau:
+ chính trị chỉ đạo,chi phối,quyết định toàn bộ tiến trình và kết cục chiến tranh,quy định mục tiêu và điều chỉnh mục tiêu,hình thức tiến hành đấu tranh vũ trang; sử dụng kết quả sau chiến tranh để đề ra những nhiệm vụ,những mục tiêu mới cho giai cấp,xã hội trên cơ sở những thắng lợi hay thất bại của chiến tranh.
+ Ngược lại chiến tranh là một bộ phận,một phương tiện của chính trị,là kết quả phản ánh những cố gắng cao nhất của chính trị.
Trong thời đại ngày nay mặc dù chiến tranh có những thay đổi về phương thức tác chiến, vũ khí,trang bị, song bản chất chiến tranh vẫn không có gì thay đổi,chiến tranh vẫn là sự tiếp tục chính trị của nhà nước và giai cấp nhất định.
Đường lối chính trị của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vẫn luôn chứa đựng nguy cơ chiến tranh.