1. Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai khi tài sản chung chỉ đứng tên một mình vợ ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê, tôi có trường hợp muốn nhờ luật sư tư vấn: 2 vợ chồng kết hôn năm 1971 (ở nông thôn), chồng đi bộ đội, sau 1975 xuất ngũ, tiếp tục đi học Đại học rồi đi làm. Từ lúc đi học ĐH cho đến hiện nay đi làm ở thành phố, không có hộ khẩu và cũng không cư trú tại địa phương.

Vợ ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp. Năm 1976: lúc này gia đình nhà chồng do đông con nên lúc đó người vợ làm đơn xin chính quyền địa phương cấp cho 1 miếng đất, ngay sát nhà chồng. Sau đó bố mẹ chồng cất 1 căn nhà cấp 4 trên mảnh đất này để cho gia đình vợ chồng người con trai ở. Tuy nhiên người chồng từ khi đi thoát ly, lại có vợ bé, ít khi về gia đình. Năm 1996, UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên người vợ (vì người vợ là chủ hộ, lúc này người chồng không có hộ khẩu ở địa phương và đến nay vẫn không có hộ khẩu tại địa phương đó). Năm 2012, căn nhà này xuống cấp, bị phá dỡ và người vợ đã xây dựng 1 căn nhà mới hoàn toàn. Nay người chồng quay về chất vấn người vợ: cho rằng người vợ tự ý làm sổ đỏ đứng tên một mình, mà không để người chồng đứng tên cùng đồng thời bắt người vợ phải làm lại giấy đề tên người chồng vào chung trong giấy chứng nhận.

Xin hỏi: yêu cầu của người chồng có hợp lý không? Việc cấp giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền cho người vợ có thể hiểu tài sản này là của riêng một mình người vợ hay không? Nếu người vợ không đồng ý theo đề nghị của người chồng có được không? Nếu người chồng kiện đòi quyền lợi thì pháp luật giải quyết thế nào?

Xin nhờ Luật sư tư vấn giúp. Xin cám ơn!

Người gửi: TTM

Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai khi tài sản chung chỉ đứng tên một mình vợ ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin được tư vấn cho bạn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, việc có được mảnh đất là do người vợ làm đơn xin chính quyền địa phương cấp cho mảnh đất, căn cứ khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Có thể nhận thấy việc người vợ đưa đơn lên chính quyền địa phương xin đất.Tuy nhiên thì nếu việc bạn xin đất và giấy chứng nhận được cấp trước thời ký hôn nhân là tài sản riêng của bạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Còn giấy chứng nhận cấp trong thời kỳ hôn nhân thì bạn cần đưa ra căn cứ chứng minh đó là tài sản riêng của mình.

Thứ 2, bạn có cung cấp trong thời gian người vợ xin chính quyền địa phương cấp đất người chồng đã không còn sinh sống tại địa phương, không có hộ khẩu tại địa phương và đến nay vẫn không có, trong quá trình người vợ xây dựng nhà cũng không có sự đóng góp. Thêm vào đó là sự việc người chồng mặc dù vẫn còn quan hệ hôn nhân với người vợ ở nông thôn nhưng lại có vợ bé trong quá trình học tập và làm việc trên thành phố, điều này đã vi phạm vào hành vi bị cấm trong điểm C khoản 2 Điều 5 quy định về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình:

"c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;"

Căn cứ vào điều này người vợ hoàn toàn có thể yêu cầu xử ly hôn chấm dứt quan hệ hôn nhân và người chồng không có căn cứ nào để coi mảnh đất kia là tài sản chung vợ chồng để yêu cầu đứng tên.

Như vậy, miếng đất được coi là tài sản riêng của người vợ, việc chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người vợ là đúng và người chồng không có quyền yêu cầu người vợ làm lại giấy chứng nhận có đứng tên mình vào.

>> Tham khảo ngay: Tư vấn tranh chấp đất đai: Giấy tờ cho đất xác lập khi say rượu có giá trị pháp lý không

2. Yêu cầu cắt điện khi xảy ra tranh chấp đất đai có hợp pháp không ?

Kính gửi Luật Sư, Xin Luật sư vui lòng hổ trợ giúp: Công Ty A cho công ty B thuê mặt bằng để kinh doanh. Công ty B ký hợp đồng mua điện với Điện lực, hiệu lực hợp đồng mua điện đến 13/10/2015 hết hạn và B không đủ giấy tờ hợp lệ để tiếp tục ký lại hợp đồng điện.

- A và B xãy ra tranh trấp về đất đai. A kiện B ra Tòa án thành phố trực thuộc tỉnh và A yêu cầu Điện lực cắt điện tránh hỏa hoạn, mất an toàn...vì Đất thuộc sở hữu của A.

- B yêu cầu Tòa án đề nghị Điện lực không cắt điện chờ đến khi giải quyết xong vụ án và Tòa đã có văn bản yêu cầu Điện lực tiếp tục cấp điện cho B đến khi giải quyết xong vụ án.

Luật sư vui lòng tư vấn giúp em:

- Tòa yêu cầu Điện Lực như vậy đúng hay sai?

- A có kiện Điện lực được không nếu Điện lực không cắt điện?

- Điện lực cắt điện có vi phạm gì không?

Xin cám ơn Luật sư!

Yêu cầu cắt điện khi xảy ra tranh chấp đất đai có hợp pháp không ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với vấn đề mà bạn đang thắc mắc chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Điều 27. Ngừng, giảm mức cung cấp điện (Luật điện lực 2004 sửa đổi 2012)

1. Trường hợp ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện không khẩn cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 23 của Luật này, bên bán điện phải thông báo cho bên mua điện biết trước thời điểm ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện ít nhất năm ngày bằng cách thông báo trong ba ngày liên tiếp trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hình thức thông tin khác.

2. Trường hợp ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện khẩn cấp do sự cố, do sự kiện bất khả kháng mà bên bán điện không kiểm soát được có nguy cơ làm mất an toàn nghiêm trọng cho người, trang thiết bị hoặc do thiếu nguồn điện đe dọa đến an toàn của hệ thống điện thì đơn vị phát điện, truyền tải điện, phân phối điện được ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện đối với bên mua điện để xử lý và trong thời hạn 24 giờ phải thông báo cho bên mua điện biết nguyên nhân, dự kiến thời gian cấp điện trở lại.

3. Trường hợp đơn vị điện lực ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện trái các quy định về ngừng, giảm mức cung cấp điện thì bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên mua điện theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bên mua điện không thực hiện đúng các quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 46, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 47 của Luật này thì bên bán điện có quyền ngừng cấp điện cho bên mua điện.

Điều 37. Thu hồi giấy phép hoạt động điện lực

Tổ chức, cá nhân bị thu hồi giấy phép hoạt động điện lực trong các trường hợp sau đây:

1. Không triển khai hoạt động sau sáu tháng kể từ ngày được cấp giấy phép hoạt động điện lực;

2. Không bảo đảm các điều kiện hoạt động điện lực theo quy định của Luật này;

3. Không thực hiện đúng các nội dung ghi trong giấy phép hoạt động điện lực;

4. Cho thuê, cho mượn, tự ý sửa chữa giấy phép hoạt động điện lực.

Căn cứ vào những quy định trên mình xin được trả lời câu hỏi của bạn đó là do B không đủ các điều kiện để tiếp tục thực hiện cung cấp điện theo quy định của pháp luật thì A hoàn toàn có quyền yêu cầu điện lực cắt điện của B. Còn với việc A kiện Điện lực do không cắt điện là không đúng, trong trường hợp này A có thể kháng cáo, kháng nghị với quyết định của Tòa án theo trình tự thủ tục của pháp luật.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162 . Chúng tôi sẳn sàng giải đáp. Trân trọng ./.

>> Tham khảo nội dung: Tư vấn về tranh chấp đất đai thừa kế giữa anh em trong gia đình ?

3. Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai giữa hai hộ giáp ranh ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Gia đình tôi hiện đang tranh chấp một lô đất với gia đình ông A. Trong thời gian chờ tòa án giải quyết thì ông A đã bán lô đất trên cho ông B và hiện nay ông B đã làm sổ đỏ cho phần đất đó.

Tuy nhiên, ông B đã xây dựng tường rào lấn chiếm sang đất của tôi. Tôi đã gửi đơn nhờ UBND xã giả quyết yêu cầu ông B trả lại phần đất bị lấn chiếm. Xã đã yêu cầu tôi phải kêu người đến đo đạc lại lô đất tranh chấp, nếu dư sẽ buộc ông B trả lại. Tuy nhiên, nếu trả thì xã giải quyết trả cho tôi phần đất khác (phần đất ông B chưa xây cất), nhưng bên tôi không đồng ý vì phần đất này rất khó khăn trong việc sử dụng và miến đất của tôi không còn được vuông vức như trước nữa Vậy Luật sư cho tôi hỏi:

Thứ nhất: Việc đo đạc là do gia đình tôi tự thuê người đo, hay địa chính xã, hay cơ quan nào tiến hành việc đo đạc.

Thứ hai: Gia đình tôi không đồng ý phần đất xã giải quyết, muốn bên B trả đúng phần đất bị lấn chiếm của tôi thì cần làm những thủ tục gì.

Rất mong được sự hướng dẫn giúp đỡ của luật sư. Xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Chào bác! Cảm ơn bác đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Đối với vấn đề bạn thắc mắc chúng tôi xin được trả lời như sau:

Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.
Như vậy việc các bên có tranh chấp về đất đai thì bạn cần làm đơn yêu cầu UBND xã tiến hành hòa giải. Trên cơ sở biên bản hòa giải không thành thì bạn có thể làm đơn khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền.

>> Tham khảo thêm: Tranh chấp đất đai khi chiếm hữu hợp pháp, ngay tình trong 30 năm ?

4. Hỏi đáp pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai trong gia đình ?

Kính thư Luật sư, Đầu tiên xin chúc luật sư thật nhiều sức khỏe, công ty thịnh vượng phát đạt!! Tôi là L T.M.C . Nội tôi có 5 người con 2 trai (ba tôi và một người bác) và 3 cô, trong đó người Bác trai tôi bị bệnh nên mất cách đây hơn 10 năm và 1 người cô cũng mất cách đây 2 năm, ông nội cũng đã mất chỉ còn Bà Nội.

Nhưng giờ bà cụ đã hơn 80 tuổi, giờ bà chỉ nghe lời cháu nội là con của Người Bác đã mất) nên dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong gia đình. Nên đã đưa lên tòa án để phân chia ruộng đất, và năm 2011 toàn án ra văn bản phân chia cho Bà Nội 1 mẫu (bà giao lại cho cháu con của bác), còn lại chia đều cho ba tôi và 3 cô. Bên Địa Chính thì không giúp đõ gia đình tôi vì đã có liên thông với thằng cháu con của Bác, đã nhiều lần tôi nói chuyện với Địa Chính nhưng bên này cứ hứa lèo thôi, bên Địa Chính cũng có xuống đo nhưng Bà Nội không đồng ý nên không đóng cọc. Nếu vậy với văn bản của tòa án mà Nội không đồng ý thì bên tôi không nhận được đất sao? Vụ việc tới nay đã 4 năm rồi và văn bản quyết định của tòa án có còn hiệu lực không. Bây giờ tôi phải thưa kiện vụ việc này như thế nào để có thể nhận đươc quyền sử dụng đất?

Kính mong Luật sư tư vấn giúp!! Chân thành cám ơn luật sư!

Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai trong gia đình

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc về cho chúng tôi, với vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Do những thông tin mà bạn cung cấp không rõ ràng, chưa đầy đủ, bạn chưa cung cấp thông tin là số ruộng đất đó trước kia là của ai, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không? giấy chứng nhận đó ghi tên ai là chủ sở hữu? do đó chúng tôi chưa hiểu rõ thắc mắc của bạn. Dựa vào những thông tin mà bạn cung cấp thì tôi xác định trường hợp của bạn là tranh chấp về việc chia thừa kế, và số đất đó thuộc sở hữu của ông nội bạn đã mất và không để lại di chúc.Do đó trường hợp này sẽ chia thừa kế theo pháp luật.

Theo Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Như vậy trong trường hợp của bạn thì bà nội, bố, 2 cô còn lại của bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất, bạn và con của bác đã mất của bạn thuộc hàng thừa kế thứ 2, theo quy định của pháp luật thì những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu như không có người ở hàng thừa kế thứ nhất, do đó trong trường hợp này bạn và con của bác bạn không được chia thừa kế.

Do đó quyền sử dụng đất sẽ được chia đều cho bà, bố và hai cô của bạn. Tức là bốn người này được hưởng các phần bằng nhau.

Đối với mẫu đất của bà nội bạn( trong trường hợp quyền sử dụng đất được chia đều) sau khi chia là thuộc quyền sở hữu của bà bạn do đó bà nội bạn hoàn toàn có quyền quyết định tặng cho nó cho bất kì ai.

Thứ hai, quyết định cúa tòa án khi đưa ra thì không có thời hạn có hiệu lực,do vậy quyết định của Tòa án đưa ra lúc đó đến bây giờ đương nhân vẫn có hiệu lực, Đối với cá nhân bạn là thuộc hàng thừa kế thứ 2 trong trường hợp này bạn không được hưởng thừa kế vì vậy không thể khởi kiện.

>> Tham khảo ngay: Giải quyết tranh chấp đất đai ở đâu ? Thủ tục khởi kiện ra tòa thực hiện như thế nào ?

5. Tư vấn về việc giải quyết tranh chấp đất đai của tòa án ?

Thưa luật sư, xin luật sư tư vấn cho chúng tôi sự việc này: Tôi được cấp giấy quyền sử dụng đất (QSDĐ) tới nay là 19 năm. Tại thời điểm cấp phòng địa chính có nhận được đơn khiếu kiện tranh chấp thừa kế từ ông B, nhưng phòng địa chính đã xem xét và giải quyết đơn đồng thời có công văn hướng dẫn ông B gởi đơn đến toàn án nơi có thẩm quyền. Nhưng từ ngày có công văn hướng dẫn cho đến 6 tháng 6 phòng địa chính vẫn không nhận được bất kì 1 quyết định gì của tòa án (quyết định là đất có tranh chấp) Cho nên phòng địa chính mới cấp QSDĐ cho tôi. Nay tòa án xử lại vụ án bảo rằng đất đang tranh chấp mà ủy ban cấp sổ là sai nên thu hồi sổ QSDĐ của tôi.
Vậy cho tôi hỏi đất đang tranh chấp mà không thông qua tòa án giải quyết thì đất đó không có tranh chấp đúng không? (Đất có tranh chấp thì phải thông qua Tòa án giải quyết thì mới gọi là đất có tranh chấp) Nếu tôi xin kháng cáo thì thời gian xử là bao lâu? và tôi được kháng cáo bao nhiêu lần?
Xin cám ơn luật sư!

Tư vấn về việc giải quyết tranh chấp đất đai của tòa án?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chuyên mục tư vấn của công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

1. Đất có tranh chấp hay không?

Theo quy định tại khoản 24 điều 3 Luật đất đai năm 2013 quy định như sau:

"Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai."

Theo quy định tại điều 203 Luật đất đai quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

"1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Từ các quy định trên có thể hiểu có thể hiểu "đất đang có tranh chấp" là loại đất mà giữa người sử dụng hợp pháp đất đó với cá nhân khác, với Nhà nước hoặc giữa những người sử dụng chung mảnh đất đó với nhau đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất, về ranh giới, về mục đích sử dụng đất hoặc về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất..."Đất đang có tranh chấp" cũng có thể hiểu là đất tranh chấp giữa hai cá nhân chưa xác định được ai là người sử dụng đất hợp pháp. Trong trường hợp này mảnh đất của bạn bị ông B nộp đơn khiếu kiện về quyền thừa kế nên là đất đang có tranh chấp. Vì đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên theo quy định tại khoản 1 điều 203 Luật đất đai 2013 thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

2. Nếu tôi xin kháng cáo thì thời gian xử là bao lâu? Và tôi được kháng cáo bao nhiêu lần?

Khi bạn không đồng ý với quyết định sơ thẩm, bản án của tòa án thì bạn có thể nộp đơn kháng cáo cho Tòa án, thời gian kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là mời lăm ngày.

Theo điều 271, 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 :

Điều 271. Người có quyền kháng cáo

Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Điều 273. Thời hạn kháng cáo

1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này.

3. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận.

3. Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì.

Theo điều 258 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Điều 286. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

1. Trong thời hạn 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, tùy từng trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết định sau đây:

a) Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;

b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;

c) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không được quá 01 tháng.

2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

3. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

4. Thời hạn quy định tại Điều này không áp dụng đối với vụ án xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài.

Căn cứ quy định nêu trên thì tổng thời gian thông thường cho việc xét xử phúc thẩm kể từ ngày bạn nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án cấp phúc thẩm là 5 tháng.

- Về số lần kháng cáo: theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì đương sự có quyền kháng cáo quyết định, bản án sơ thẩm của tòa án theo thủ tục phúc thẩm 1 lần.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email:Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê