Tuy nhiên, vì tôi đã thấy anh A nhiều lần giúp cho nhiều người thành công nên tôi tin tưởng không viết giấy giao nhận tiền. Cho đến nay, công việc không thể hoàn thành, anh A cũng không hoàn trả tiền lại cho tôi.
Nhiều lần gọi điện trao đổi và trong cuộc điện thoại (có ghi âm), anh A cũng công nhận là anh A có cầm của tôi số tiền trên và hứa hẹn sẽ trả. Như vậy, trong trường hợp này tôi có thể khởi kiện được hay không? Và với những bằng chứng như:
- Có nhiều cuộc điện thoại đòi tiền, và anh A có hứa hẹn trả, và một trong vài cuộc gọi đó có đề cập đến số tiền anh A cầm để lo việc.
- Có một số nhân chứng và bằng chứng khác về việc anh A đã lo cho nhiều người không thành công và không trả.
- Trực tiếp bạn tôi đã gặp và được anh A hứa hẹn nhiều về chuyện công việc có thể làm chứng về việc anh  A lo việc cho bạn tôi.

Xin luật sư tư vấn cho biết trường hợp này tôi sẽ phải xử lý thế nào cho chặt chẽ và đúng pháp luật.

Chân thành cảm ơn!

Người gửi: NHL

Câu hỏi được biên tập từchuyên mục tư vấn pháp luật Dân sự của công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn lấy lại tiền không có giấy giao nhận chứng minh ?

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý

Bộ luật dân sự 2005

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

2. Nội dung tư vấn:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì người đó có nhận tiền (240.000) và hứa giúp xin việc nhưng sau một thời gian không có kết quả. Khi bạn gọi điện thì hứa hẹn, khất lần. Như vậy, hành vi của người đó có thể cấu thành tội phạm trong một số trường hợp.

Thứ nhất, nếu ngay từ ban đầu, người đó đã không có khả năng xin được việc cho bạn nhưng có thủ đoạn gian dối để bạn lầm tưởng có thể xin được việc và giao tiền cho người đó. Ở đây số tiền của bạn là 240 triệu đồng, cho nên có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009  

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản bàn giao tài liệu, tài sản, công việc mới năm 2021

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.[...]

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; [...]".

Thứ hai, nếu ban đầu người đó có khả năng xin được việc, không dùng thủ đoạn gian dối mà bạn tự nguyện giao tiền. Sau khi nhận tiền, vì lý do nào đó mà không xin được việc và nảy sinh ý định chiếm đoạt thì có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 140 Bộ luật hình sự 

"Điều 140.  Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

 a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản [...]

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; [...]".

>> Xem thêm:  Không có giấy vay tiền có khởi kiện đòi nợ được không ? Con nợ bỏ trốn có đòi được không ?

Để lấy lại được số tiền 240 triệu, bạn có thể làm đơn tố giác đến cơ quan công an cùng với đó là đưa ra các bằng chứng như những đoạn ghi âm...để công an có căn cứ giải quyết.

Ngoài ra, bạn cũng không nói rõ người A này có phải là người có chức vụ quyền hạn liên quan đến việc chạy việc hay không? Nếu người A này không phải là người có chức vụ, quyền hạn, không trực tiếp lo chạy việc cho người kia thì bạn có thể làm đơn tố giác người này theo phân tích ở trên. Tuy nhiên, nếu người A này là người có chức vụ, quyền hạn, trực tiếp lo chạy việc cho ngườ kia, bạn muốn lấy lại số tiền 240.000.000 đồng theo phương thức khởi kiện thì bạn phải cân nhắc. Bởi hành vi đưa tiền chạy việc và chạy việc như vậy rơi vào cấu thành tội đưa hối lộ và nhận hối lộ theo quy định của Điều 279 và Điều 289 Bộ luật Hình sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về luật hình sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Emailhoặc gọi điện để được tư vấn qtrực tiếp qua tổng đài 1900.6162.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ.

>> Xem thêm:  Năm 2021, người lao động bị tai nạn lao động sẽ được trả lương như thế nào ?