Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi, chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:luật cư

Cơ sở pháp lý:

Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành

Bộ luật lao động 2012

Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động 

Luật việc làm 2013 

Nội dung tư vấn:

Chồng tham gia mua bảo hộ cho vọ, nay chồng đã chết do tai biến mạch máu não, như vậy người vợ muốn thanh toán HĐ số tiền sẽ được bao nhiêu? có được thanh toán 100% như trong HĐ không?

Điều 424 BLDS 2005 có quy định như sau: 

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng bảo hiểm

Điều 424. Chấm dứt hợp đồng dân sự

Hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Hợp đồng đã được hoàn thành;

2. Theo thoả thuận của các bên;

3. Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc chủ thể khác chấm dứt mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể đó thực hiện;

4. Hợp đồng bị huỷ bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện;

5. Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn và các bên có thể thoả thuận thay thế đối tượng khác hoặc bồi thường thiệt hại;

6. Các trường hợp khác do pháp luật quy định.

Theo đó, chồng bạn là người giao kết hợp đồng đã và đa chết nên hợp đồng này sẽ được chấm dứt. Quyền lợi của bạn sẽ được giải quyết theo thỏa thuận của HĐBH.

Bố tôi năm nay 54 tuổi (sinh năm1962) đã nộp bảo hiểm được 20 năm 4 tháng, làm công việc nặng (công ty xi măng). Nay công ty giải thể. Vậy chế độ về lương của bố tôi được hưởng như thế nào? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Điều 47: Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt HĐLĐ:

>> Xem thêm:  Tư vấn đơn phương chấm dứt hợp đồng bảo hiểm với Prudential ?

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.

Theo đó, công ty sẽ có nghĩa vụ thanh toán tiền lương cho bố bạn trong thời hạn 07 ngày, chậm nhất có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày. Bên cạnh đó, bạn có thể căn cứ quy định tại Điều 49 Luật việc làm 2013 về diều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp xem bố bạn có được hưởng trợ cấp thất nghiệp hay không:

Điều 49. Điều kiện hưởng:

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

>> Xem thêm:  Quy định pháp luật về hợp đồng bảo hiểm

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết. 

Bên cạnh đó, công ty còn phải trả trợ cấp mất việc làm cho bố bạn theo quy định sau đây:

>> Xem thêm:  Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm: Mưa ngập hầm làm hư chiếc Mercedes, bảo hiểm có phải bồi thường ?

Điều 49: Trợ cấp mất việc làm:

1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

Luật sư cho em hỏi là đến tháng 7 em sinh em bé nhưng thẻ bảo hiểm em hết hạn là 30tháng 6 nhưng chưa biết lúc nào có thẻ mới vậy em phải làm thế nào? Em đăng ký bảo hiểm ở phòng khám đa khoa cầu diễn em muốn chuyển lên phụ sản hà nội thì thủ tục như nào. Em xin cảm ơn.

Trong trường hợp này bạn có thể yêu cầu cơ quan bảo hiểm xã hôi cấp giấy xác nhận khi đi khám, chữa bệnh. Đối với trường hợp chuyển tuyến khám chữa bệnh, bạn cần xin giấy chuyển tuyến của nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu lên tuyến trên để được hưởng 100% mức bảo hiểm.

Tôi làm việc tại 1 Cty 2 năm, đã hết thời hạn hợp đồng 2 năm, tôi không làm việc tại Cty đó nữa nhưng đến nay Cty đó vẫn chưa thanh toán các chi phí công tác và nộp bảo hiểm cho tôi

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 47 Bộ luật lao động có quy định về Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. Theo đó, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ, công ty có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản liên quan đến quyền lợi của người lao động trong đó có chi phí công tác.

Bên cạnh đó, đối với việc công ty chưa nộp bảo hiểm cho bạn của công ty sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Nghị định 95/2013/NĐ-CP. 

 Phạt tiền với mức từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

Đồng thời, công ty còn bị Buộc truy nộp số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng; Buộc đóng số tiền lãi của số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ Quỹ bảo hiểm xã hội trong năm.

Bạn có thể Khiếu nại lần đầu đến công ty mình đã làm việc. Trường hợp người khiếu nại được quy định tại điểm a khoản 2 Điều này không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án hoặc khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh là Sở lao động thương binh xã hội.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án.

Hiện tôi đang làm kế toán một cửa hàng xe máy nhưng do công ty tư nhân không có HĐLĐ và tham gia bảo hiểm được và lúc trước tôi làm công ty cũ có tham gia bảo hiểm được 08 năm giờ tôi muốn tiếp tục tự đóng bảo hiểm mà không rút ra được không ?

Thứ nhất, nếu công việc của bạn có thời gian từ 03 tháng trở lên thì công ty của bạn có trách nhiệm phải giao kết HĐLĐ bằng văn bản.Theo đó, trường hợp này, công ty không giao kết HĐLĐ cho bạn sẽ bị xử lý theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 5 Nghị định 95/2013/NĐ-CP, theo đó Phạt tiền người sử dụng lao động Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng khi có hành vi không giao kết HĐLĐ đối với công việc cố định có thời hạn trên 03 tháng.

Thứ hai,hành vi công ty không thực hiện đóng bảo hiểm cho bạn sẽ bị xử phạt theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Nghị định 95/2013/NĐ-CP. 

 Phạt tiền với mức từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

Do đó, bạn có thể tố cáo hành vi này đến Phòng LĐTBXH nơi công ty đặt trụ sở, nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của cơ quan này bạn có thể khởi kiện đến Tòa án để bảo vệ quyền lợi cho mình.

Đối với trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội sẽ phải do người sử dụng lao động đóng và bạn không thể tự mình đóng được.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật, về luật dân sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua qua email: để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

 Bộ phận Tư vấn Pháp luật Lao động - Công ty Luật Minh Khuê.