Nên tôi vẫn tiếp tục làm việc, trong một số nhiệm vụ ở Công ty có việc viết hoá đơn VAT thay cho kế toán những ngày kế toán nghỉ việc. Số tiền VAT được kế toán tổng hợp lại, tôi chỉ giữ VAT những hoá đơn mình xuất và có chữ kí của mình. Vì bị giám đốc sử dụng những từ ngữ vô văn hoá nói với tôi, cùng với việc đưa ra những góp ý để yêu cầu quyền lợi cho nhân viên nhưng không được đồng tình, tôi đã thôi việc ngày 14/3/2016. Bên công ty có đề nghị tôi sang bàn giao công việc cũ, rồi đổ lỗi rằng tôi đang giữ  tất cả các khoản tiền VAT và phải hoàn trả lại nếu không sẽ kiện tôi ra pháp luật để gây sức ép tôi bàn giao công việc, tôi có chấp nhận là 1 triệu đồng tiền VAT tôi có giữ, nhưng nếu nói tôi giữ tất cả số tiền VAT từ những tháng trước đó thì không có. Vậy nếu bên công ty A kiện mình, mình có thể khởi kiện lại họ như thế nào.

Chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.

>> Tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13

Nội dung phân tích:

Căn cứ theo khoản 2 Điều 16 Bộ luật lao động quy định:

"Điều 16. Hình thức hợp đồng lao động

...

2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói."

Thì bạn nói bạn bắt đầu làm việc từ tháng 1/2016 và nghỉ việc vào 14/3/2016/ lúc này thời gian dưới 3 tháng nên bạn có thể không càn kí HĐLĐ với công ty, có thể coi hai người đã giao kết HĐLĐ bằng lời nói.

Bây giờ công ty đổ lỗi rằng bạn đang giữ tất cả các khoản tiền VAT và phải hoàn trả lại nếu không sẽ kiện bạn ra pháp luật để gây sức ép tôi bàn giao công việc. Bạn có giấy tờ chứng minh những hoá đơn mình xuất và có chữ kí của mình. Luc này bạn có thể yêu cầu hòa giải viên lao động giải quyết tranh chấp cho bạn theo quy định tại Điều 202 Bộ luật lao động:

"Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư lao động.