1. Cách phân chia tài sản, quyền nuôi con sau ly hôn?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Vợ chồng tôi có chung với nhau 3 đứa con. Chồng tôi đi lao động nước ngoài và quan hệ bất chính với người phụ nữ khác có chung một đứa con và đòi ly hôn với tôi.

Vậy xin hỏi:

1. Sau khi ly hôn khối tài sản của 2 vợ chồng đươc xây dựng nên sẽ giải quyết như thế nào? Vợ chồng tôi xây dựng nhà ở trên mảnh đất của ông bà nội. Vậy ngôi nhà và nội thất trong nhà đó có đươc cho là tài sản chung không? Hai xe máy đăng ký chính chủ là tôi có được gọi là tài sản riêng không ?

2. Các cháu còn nhỏ đang học tiểu học có quyền lợi gì không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.T.H.G

>> Tư vấn về quyền tài sản của con khi Bố Mẹ ly hôn, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản chung vợ chồng được xác định như sau:

"Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung."

Do đó, nếu căn nhà được xây dựng và nội thất được mua sắm xuất phát từ tiền do vợ chồng bạn tạo ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc được tặng cho chung thì sẽ được công nhận là tài sản chung vợ chồng. Tuy nhiên, nếu những tài sản này vốn là tài sản riêng nhưng bên có tài sản thỏa thuận nhập vào tài sản chung thì cũng sẽ được coi là tài sản chung vợ chồng. Với hai xe máy mà bạn đứng tên, để xác định nó là tài sản chung hay tài sản riêng cũng cần phải xuất phát từ nguồn gốc của tài sản này. Nếu nó được mua bằng tài sản riêng của bạn hoặc được tặng cho, thừa kế riêng cho bạn mà vợ chồng bạn không thỏa thuận đưa vào tài sản chung thì về nguyên tắc đó là tài sản riêng của bạn. Tuy nhiên, nếu 2 xe máy được mua từ tài sản chung vợ chồng thì dù hai xe đứng tên của bạn, tài sản này vẫn được xác định là tài sản chung vợ chồng.

Với các con của bạn, pháp luật cũng đã có những quy định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên khi chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Cụ thể một trong các nguyên tắc của việc chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn có đề cập:

"Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình."

Do đó, khi chia tài sản chung vợ chồng, tòa án sẽ phân chia tài sản có tính đến quyền lợi của các con bạn chẳng hạn: ưu tiên bên nuôi con được nhận nhà để đảm bảo chỗ ở,...Khi chia tài sản, vợ chồng bạn có thể thỏa thuận hoặc nếu không thỏa thuận được, tòa án sẽ giải quyết khi có yêu cầu. Lúc đó, khi chia tài sản, thẩm phán sẽ xem xét đến các quyền lợi của con bạn.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn?

Thưa luật sư! Tôi có câu hỏi xin được luật sư giải đáp: Tôi và chồng chung sống với nhau 4 năm có 2 đứa con. Khi tôi sinh đứa con gái thứ 2 thì chồng tôi bỏ không quan tâm gì mặc cho 3 mẹ con tôi sống như thế nào. Vì công việc không ổn định khi sống chung thì chẳng có gì gọi là làm vốn có thể bán để nuôi con.

Tôi đã quyết định ly hôn khi đứa con thứ 2 của tôi mới có 2 tháng tuổi. Khi ly hôn tòa đã giải quyết tôi nuôi một đứa và chồng tôi nuôi một đứa, xét hoàn cảnh của tôi khó khăn về kinh tế và sức khỏe nên tòa giải quyết cho tôi nuôi đứa lớn để tôi có thể đi làm nuôi sống bản thân và nuôi con. Chồng tôi đã chấp nhận kí vào đơn ly hôn. Sau khi ly hôn và chia con tôi cũng có thường xuyên ghé về thăm con nhỏ của tôi. Mỗi lần tôi về thăm con là tôi bị gia đình anh xúc phạm và chửi. Tôi rất thương con tôi nhưng tôi không thế nào nuôi 2 đứa mà yêu cầu chu cấp thì bên chồng không đồng ý. Giờ tôi muốn được quyền thăm nom con và đưa đón con đi chơi các dịp lễ tết thì có được không? Muốn như vậy tôi phải làm gì? Làm như thế nào tôi có thể tránh sự đe dọa của cha mẹ chồng khi đến thăm con.

Kính mong sự tư vấn của luật sư. Tôi xin cảm ơn, chúc luật sư có nhiều niềm vui trong cuộc sống.

Quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo quy định tại khoản 1 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì sau khi ly hôn cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Và theo quy định tại khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì:

"....2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con."

Như vậy việc trông nom, chăm sóc con mình sau ly hôn hoàn toàn là quyền của bạn, điều này được pháp luật thừa nhận. Không ai có quyền ngăn cấm việc thực hiện quyền làm mẹ của bạn, kể cả gia đình chồng bạn. Theo thông tin bạn cung cấp, gia đình chồng bạn có những lời lẽ xúc phạm, chửi bạn khi bạn đến thăm con và ngăn cản việc bạn đến thăm con. Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền của người mẹ đối với con của mình cũng được coi là hành vi bao lực gia định theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình số 02/2007/QH12 của Quốc hội. Và điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 2 như sau:

"Điều 2. Các hành vi bạo lực gia đình

1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;......

2. Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng."

Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền giữa mẹ và con của gia đình chồng bạn sẽ bị xử phạt như theo quy định tại Điều 53 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình:

"Điều 53. Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ giữa ông, bà; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau."

Việc bạn yêu cầu chu cấp mà chồng bạn không đồng ý, điều này là vi phạm quy định của pháp luật. Luật hôn nhân và gia đình quy định người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, và người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

.....2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.....

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.....

Trường hợp bạn muốn được nuôi cả đứa con mà bạn không trực tiếp nuôi và bạn thỏa thuận được vấn đề này với chồng cũ của bạn. Thì trường hợp này bạn và chồng cũ có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn phù hợp với lợi ích của con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình như sau:

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ."

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Khi ly hôn chồng đòi giữ toàn bộ tài sản có đúng hay không?

Kính chào Luật Minh Khuê, Em có vấn đề liên quan đến luật hôn nhân gia đình muốn được tư vấn. Câu chuyện như sau: gia đình chị gái em đang làm thủ tục ly hôn, hai vợ chồng anh chị sống với nhau được 6 năm, có một con gái đã 5 tuổi và có tài sản chung là một cái tàu, một ngôi nhà. Nay anh chị muốn ly hôn vì hai vợ chồng bất hòa không sống được với nhau nữa.

Người chồng làm đơn ra tòa đòi ly hôn và nói rằng tài sản là của riêng anh ta. Tài sản trên do hai anh chị gây dựng sau khi kết hôn. Ngôi nhà được xây dựng trên đất đứng tên của bố mẹ chồng của chị em. Nay gia đình bên nhà chồng của chị em nói nhà trên đất của họ thì của họ và không có ý định chia một chút tài sản nào cho chị gái của em. Vậy em xin hỏi quý luật sư là việc là của họ như vậy là đúng hay sai, có hợp với pháp luật hiện hành hay không? Và nếu theo đúng luật thì sau khi ly hôn chị em sẽ được hưởng những gì? Nếu chị em muốn nuôi con thì cần có những điều kiện gì?

Em rất mong sớm nhận được hồi âm từ quý luật sư.

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: buinam

Khi ly hôn chồng đòi giữ toàn bộ tài sản có đúng hay không?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Về tài sản:

Theo như thông tin bạn đưa ra thì tài sản chung của vợ chồng chị gái bạn bao gồm 1 con tàu và 1 ngôi nhà chung.Tuy nhiên, người chồng cho rằng đó là tài sản riêng của mình. Vậy cách xác định tài sản chung của vợ và chồng như thế nào?

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Ngoài ra tại Tòa án để xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ hoặc chồng thì căn cứ theo quy định tại Khoản 3, Điều 33 LHNGĐ 2014:

“3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Do đó, để xác định xem tài sản của vợ chồng chị gái bạn có phải là tài sản chung hay không trước hết phải xác định đó có phải là tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân hay không và có thực hiện việc chia tài sản chung trong thời kỳ như Điều 38 LHN&GĐ 2014 hay không?

Như vậy việc đưa đơn ly hôn ra tòa của người chồng và yêu cầu tranh chấp về tài sản thì nếu người chồng cho rằng tài sản đó là tài sản riêng của mình thì phải đưa ra được căn cứ chứng mình là tài sản riêng của mình, nếu không đưa ra được căn cứ chứng minh thì tài sản này mặc nhiên sẽ được coi là tài sản chung của vợ chồng và khi chia tài sản sẽ áp dụng theo nguyên tắc quy định tại Điều 59 LHN&GĐ :

“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

....2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng...."

Vậy nếu không thỏa thuận được và cũng không xác định được công sức đóng góp của vợ chồng thì theo nguyên tắc trên tài sản sẽ được chia đôi.

Tuy nhiên trong trường hợp của bạn, ngôi nhà hiện tại đang nằm trên đất đứng tên bố mẹ chồng chị gái bạn , nên khi tranh chấp tại Tòa có thể chị gái bạn phải đưa ra được căn cứ, bằng chứng để chứng minh đây là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng chứ không phải là tài sản của bố mẹ chồng bạn bằng cách có thể cung cấp các hóa đơn khi xây dựng nhà, hoặc các giấy tờ khác có ý nghĩa trong việc chứng minh.

2. Về quyền nuôi con:

Vợ chồng chị gái bạn có một con gái 5 tuổi, vậy để xem ai là người được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì Tòa án sẽ căn cứ theo Khoản 2, 3, Điều 81 LHN&GĐ 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

...2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, trường hợp này con gái 5 tuổi nên nằm trong khoảng từ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi thì Tòa án trước tiên sẽ căn cứ vào thỏa thuận của các bên vợ và chồng. Nếu các bên không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con cụ thể hơn là căn cứ xem ai đủ khả năng nuôi con. Vì vậy trên thực tế Tòa án sẽ yêu cầu 2 bên chứng minh về điều kiện kinh tế, thu nhập hợp pháp… và về nhân phẩm của các bên. Dựa trên những căn cứ mà các bên tự đưa ra chứng minh về khả năng nuôi con sau khi ly hôn của các bên Tòa án sẽ đưa ra quyết định cuối cùng về việc ai là người sẽ được quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Dịch vụ tư vấn pháp luật: Lĩnh vực hôn nhân gia đình;

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Sống ly thân, con mang họ mẹ khi ly hôn chồng có phải trợ cấp không?

Xin chào anh/chị luật sư Em lấy chồng được 6 tháng thì ly thân, lúc đó em mang thai được 4 tháng, sau khi ly thân em về nhà mẹ đẻ sống đến nay con em được 15 tháng tuổi, nay em muốn ly dị chồng em, xin anh/chị vui lòng cho em hỏi một vài vấn đề:

Trong lúc em sinh con, em có nhắn chồng em gửi Chứng Nhận Đăng Ký Kết Hôn cho em để em làm giấy khai sinh cho con, nhưng chồng em không gửi, nên em đã làm giấy khai sinh cho con em theo họ của em, và cũng không có tên người cha trong khai sinh của con.

Xin hỏi: khi ly dị em có được yêu cầu chồng em cấp dưỡng cho con không, tiền cấp dưỡng chồng em phải cấp ít nhất là bao nhiều tiền/tháng, nếu giữa vào giấy khai sinh chồng em không nhận con và không chịu cấp dưỡng thì em phải làm sao.

Nêu em gửi đơn xin ly hôn mà tòa mời chồng em lên tòa để giải quyết nhưng chồng em không ra tòa, vậy tòa có giải quyết ly hôn cho em không ?

Chân thành cảm ơn!

Người hỏi: ĐT Vy

Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, theo đó "cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con" (khoản 2).

Ngoài ra, khoản 1 Điều 88 Luật hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: "1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng".

Từ các quy định trên, mặc dù sống ly thân nhưng con bạn sinh ra trong thời kỳ hôn nhân cho nên được xác định là con chung của vợ chồng bạn. Chính vì thế, khi vợ chồng ly hôn, người nào không trực tiếp nuôi con sẽ phải có trách nhiệm cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không quy định cụ thể về mức cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Như vậy, nếu chồng của bạn không nhận con và không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, bạn có thể làm đơn yêu cầu Toàn án giải quyết.

Trong trường hợp bạn gửi hồ sơ xin ly hôn đơn phương, Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà chồng bạn (bị đơn) vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa. Đến khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà chồng bạn vẫn vắng mặt thì Tòa án tiến hành xét xử ly hôn vắng mặt theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Tư vấn nơi nộp hồ sơ ly hôn và thủ tục ly hôn?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi và chồng kết hôn được bốn năm và chưa có con, trong những năm đầu vợ chồng tôi sống hạnh phúc nhưng năm nay chồng tôi không làm ăn, vợ chồng tôi đã không sống cùng nhau 2 năm.

Tuy nhiên chồng tôi luôn im lặng khi tôi nhắc đến vấn đề ly hôn. Vì vậy, giờ tôi muốn ly hôn. Tôi sẽ mua hồ sơ ở đâu? Nộp ở đâu? Và thủ tục như thế nào? (vợ chồng tôi không có con chung và tài sản chung)?

Mong công ty tư vấn giúp tôi. Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: L.T

Tư vấn nơi nộp hồ sơ ly hôn và thủ tục ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Điều 51 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về quyền yêu cầu ly hôn như sau:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắcbệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ đượchành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.".

Như vậy, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu ly hôn.

Trong trường hợp của bạn, khi bạn nhắc đến chuyện ly hôn chồng bạn đều im lặng, và bạn muốn đơn phương ly hôn. Tuy nhiên bạn cần lưu ý Tòa án chỉ xem xét chấp nhận ly hôn đơn phương khi xét thấy tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Về thủ tục ly hôn :

Hồ sơ cần thiết để chuẩn bị xin ly hôn đơn phương bao gồm:

- Đơn xin ly hôn đơn phương (Theo mẫu của Tòa án)

- Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

- Bản sao chứng thực sổ hộ khẩu, giấy chứng minh thư nhân dân.

- Bản sao chứng thực giấy khai sinh của con chung ( trường hợp bạn không có con chung thì không cần giấy tờ này ).

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), Đăng ký xe; sổ tiết kiệm…(trường hợp bạn không có tài sản chung thì không cần giấy tờ này).

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ hồ sơ:

Bước 1: Bạn gửi hồ sơ khởi kiện về việc ly hôn đơn phương lên tòa án nhân dân quận/huyện nơi chồng bạn đang cư trú, làm việc (theo điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015).

Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ, nếu xét thấy đủ thẩm quyền để giải quyết vụ việc ly hôn, Tòa án sẽ ra thông báo đến bạn về nộp tiền tạm ứng án phí. Ở đây không có tranh chấp tài sản thì mức nộp án phí là 200.000 đồng.

Bước 3: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, bạn lên nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

Bước 4: Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và ra Bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Lienhe@luatminhkhue.vn hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?